.

3/1/11

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm


Thế và sự nghiệp

Tài liệu


____________________________________________________________________________________
  • SẤM KÝ 01


    Vận lành mừng gặp tiết lành
    Thấy trong quốc ngữ lập thành nên câu
    Một câu là một nhiệm màu
    Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
    Trải vì sao mây che Thái Ất
    Thủa cung tay xe nhật phù lên
    Việt Nam khởi tổ xây nên
    Lạc Long ra trị đương quyền một phương
    Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
    Một thời lại một nhiễu nhương nên lề
    Ðến Ðinh Hoàng nối ngôi cửu ngủ
    Mở bản đồ rủ áo chấp tay
    Ngự đao phút chốc đổi thay
    Thập bát tử rày quyền đã nổi lên
    Ðông a âm vị nhi thuyền
    Nam phương kỳ mộc bỗng liền lại sinh
    Chấn cung hiện nhật quang minh
    Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
    Ðoài cung vẻ rạng trăng thu
    Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
    Sang cửu thiên ám vầng hồng nhật
    Dưới lẫn trên năng vẫn uống quen
    Sửa sang muôn việc cầm quyền
    Ngồi không ai dể khẳng nhìn giúp cho
    Kìa liệt vương khí hư đồ ủng
    Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
    Trời sinh ra những kẻ gian
    Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài
    Áo vàng ấm áp đà hay
    Khi sui đấp núi khi say xây thành
    Lấy đạt điền làm công thiên hạ
    Ðược mấy năm đất lở giếng mòn
    Con yết ạch ạch tranh khôn
    Vô già mở hội mộng tôn làm chùa
    Cơ trời xem đã mê đồ
    Ðã đô lại muốn mở đô cho người
    Ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
    Suốt vạn dân cừu giận oán than
    Dưới trên dốc chí lo toan
    Những đua bán nước bán quan làm giàu
    Thống rủ nhau làm mồi phú quí
    Mấy trung thần có chí an dân
    Ðua nhau làm sự bất nhân
    Ðã tuần bốn bể lại tuần đầu non
    Dư đồ chia xẻ càn khôn
    Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
    Vội sang giàu giết người lấy của
    Sự có chăng mặc nọ ai đôi
    Việc làm thất chính tơi bời
    Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
    Xem tượng trời đã giơ ra trước
    Còn hung hăng bạc ngược quá xưa
    Cuồn phong cả sớm liền trưa
    Ðã đờn cửu khúc còn thơ thi đề
    Ấy Tần Vương ngu mê chẳng biết
    Ðể vạn dân dê lại giết dê
    Luôn năm chật vật đi về
    Âm binh ở giữa nào hề biết đâu
    Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
    Cũng một lòng trời chống khác nào
    Xem người dường vững chiêm bao
    Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
    Một góc thành làm tâm chứng quỷ
    Ðua một lòng ích kỷ hại nhân
    Bốn phương rời rỡ hồng trần
    Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần
    Tiếc là những xuất dân làm bạo
    Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
    Nhân danh trọn hết đâu đâu
    Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
    Hùm già lạc dấu khôn về
    Mèo non chi chí tìm về cố hương
    Chân dê móng khởi tiêu tường
    Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
    Nội thành ong ỏng hư kinh
    Ðầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
    Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
    Giửa hai xuân bỗng phá tổ long
    Quốc trung kinh dụng cáo không
    Giữa năm giả lai kiểm hung mùa màng
    Gà đâu sớm gáy bên tường
    Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
    Thủy binh cờ phất vầng hồng
    Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
    Ðứng hiên ngang đố ai biết trước
    Ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
    Ai còn khoe trí khoe năng
    Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
    Chưa từng thấy đời này sự lạ
    Bổng khiến người giá họa cho dân
    Muốn bình sao chẳng lấy nhân
    Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
    Ðã nên si Hoàn Linh đời Hán
    Ðúc tiền ra bán tước cho dân
    Xun xoe những rắp cậy quân
    Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công
    Máy hoá công nắm tay dễ ngỏ
    Lòng báo thù ai dễ đã nguôi
    Thung thăng tưởng thấy đạo trời
    Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
    Cát lầm bốn bể can qua
    Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
    Quân hùng binh nhuệ đầy khe
    Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời
    Bấy giờ càng khốn than ôi
    Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?
    Thương những kẻ ăn rau ăn giới
    Gặp nước bung con cái ẩn đâu
    Báo thù ấy chẳng sai đâu
    Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
    Xin những kẻ hai lòng sự chúa
    Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
    Cho nên phải báo trầm luân
    Ai khôn mới được bảo thân đời này
    Nói cho hay khảm cung rồng dấy
    Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
    Chử Rằng lục thất nguyệt gian
    Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
    Hễ nhân kiến đã dời đất cũ
    Thì phụ nguyên mới chổ binh ra
    Bốn phương chẳng động can qua
    Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
    Bấy giờ mở rộng qui khôi
    Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn
    Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
    Hoàng phúc xưa đã định tây phong
    Làu làu thế giới sáng trong
    Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương
    Rỏ sinh tài lạ khác thường
    Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
    Xem ý trời có lòng đãi thánh
    Dốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
    Chọn đầu thai những vì sao cả
    Dùng ở tay phụ tá vương gia
    Bắc phương chính khí sinh ra
    Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai
    Song thiên nhật rạng sáng soi
    Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
    Ðời này thánh kế vị vương
    Ðủ no đạo đức văn chương trong mình
    Uy nghi trạng mạo khác hình
    Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
    Cùng nhau khuya sớm dưỡng nuôi
    Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
    Binh thơ mấy quyển kinh luân
    Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
    Ở đâu đó anh hùng hẳn biết
    Xem sắc mây đã biết thành long
    Thánh nhân cư có thụy cung
    Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
    Lại dặn đấng tú nam chí cả
    Chớ vội vàng tất tả chạy rong
    Học cho biết lý kiết hung
    Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
    Hễ trời sinh xuống phải thì
    Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
    Kìa những kẻ vội lòng phú quí
    Xem trong mình một thí đều không
    Ví dù có gặp ngư ông
    Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
    Xin khuyên đấng thời trung quân tử
    Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
    Âm dương cơ ngẩu ngô sinh
    Thái nhâm thái ất trong mình cho hay
    Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
    Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
    Võ thông yên thủy thần kinh
    Ðược vào trận chiến mới càng biến cơ
    Chớ vật vờ quen loài ong kiến
    Biết ray tay miệng biếng nói không
    Ngỏ hay gặp hội mây rồng
    Công danh sáng chói chép trong vân đài
    Bấy giờ phỉ sức chí trai
    Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình
    Nặng lòng thật có vĩ kinh
    Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
    Trên trời có mấy vì sao
    Ðủ nho biền tướng anh hào đôi nơi
    Nước Nam thường có thánh tài
    Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
    So mấy lời để tàng kim quỉ
    Chờ hậu mai có chí sẽ cho
    Trước là biết nẽo tôn phò
    Sau là cao chí biết lo mặc lòng
    Xem đoài cung đến thời bất tạo
    Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
    Nguôi lòng tham tước tham giàu
    Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
    Trẻ con mang mệnh tướng quân
    Ngỡ oai đã dấy ngỡ nhân đã nhường
    Ai lấy gương vua U thủa trước
    Loạn ru vì tham ngược bất nhân
    Ðoài phương ong khởi lần lần
    Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn
    Man mác một đỉnh Hoành Sơn
    Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
    Ấy là những binh thù Thái Thái
    Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
    Phá điền dầu khỉ cuối thu
    Tái binh mới động thập thò liền sang
    Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
    Vẽ lại thêm hung kiệt mất mùa
    Lưu tinh hiện trước đôi thu
    Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
    Xem thấy nhũng sương săm tuyết lạnh
    Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
    Thành câu cá, lửa tưng bừng
    Kẻ ngàn Ðông Hải người rừng Bắc Lâm
    Chiến trường chốn chốn cát lầm
    Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
    Sang thu chín huyết hồng tứ giả
    Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
    Ðua nhau đồ thán quần lê
    Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
    Kẻ thì phải thủa hung hoang
    Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan
    Kẻ thì mắc thủa hung tàn
    Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình
    Muông vương dựng ổ cắn tranh
    Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành
    Bời bời đua mạnh tranh giành
    Ra đâu đánh đấy dem binh sớm ngày
    Bể thanh cá phải ẩn cây
    Ðất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
    Nào ai đã dễ nhìn U
    Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
    Cây bay lá lửa đôi ngàn
    Một làng còn mấy chim đàn bay ra
    Bốn phương cùng có can qua
    Làm sao cho biết nơi hào bảo thân
    Ðoài phương thực có chân nhân
    Quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
    Tìm cho được chốn được nơi
    Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình
    Bốn bề núi đá riểu quanh
    Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
    Hễ Ðông Nam nhiều phen tàn tạc
    Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
    Bắc kinh mới thật đế kinh
    Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
    Chim hồng vỗ cánh bay cao
    Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
    Ai dễ cứu con thơ sa giếng
    Ðưa một lòng tranh tiếng dục nhau
    Vạn dân chịu thủa u sầu
    Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
    Cấy cày thu đãi thời mùa
    Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
    Nhân ra cận duyệt viễn lai
    Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
    Xem tượng trời biết đường đời trị
    Gẩm về sau họ Lý xưa nên
    Giòng nhà để lấy dấu truyền
    Gẩm xem bốn báu còn in đời đời
    Thần qui cơ nổ ở trời
    Ðể làm thần khí thủa nơi trị trường
    Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
    Sông Bảo Giang thiên định ai hay
    Lục thất cho biết ngày dài
    Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
    Có thầy nhân thập đi về
    Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh
    Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
    Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
    Ra tay điều chỉnh hộ may
    Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
    Lọ là phải nhọc kéo quân
    Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
    Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
    Lộ Ngũ tinh trinh tượng thái hanh
    Ân trên vũ khí vân hành
    Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
    Bản đồ chảng sót cho ai
    Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
    Vững nền vương cha truyền con nối
    Dõi muôn đời một mối xa thư
    Bể kình tâm lặng bằng tờ
    Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
    Âu vàng khỏe đặt vững chân
    Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài
    Vừa năm nhâm tý xuân đầu
    Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
    Quyển vàng mở thấy sấm trời
    Từ Ðinh đổi đời chí lục thất gian
    Một thời có một tôi ngoan
    Giúp trong việc nước gặp an thái bình
    Luận chung một tập kim thời
    Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
    Trượng phu có chí thời coi
    Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
    Tài nầy nên đấng vẻ vang
    Biết chừng đời trị biết đường đời suy
    Kể từ nhân đoản mà đi
    Số chưa gặp thì biết hoà chép ra
    Tiếc thay hiền sĩ bao già
    Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
    Thử cho tay giúp ra dùng
    Tài này so cùng tài trước xem sao
    Trên trời kể chín tầng cao
    Tay nghe bằng một ti hào biết hay
    Hiềm vì sinh phải thời này
    Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời
    Hợp đà thay thánh nghìn tài
    Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
    Nói ra thì lậu sự đời
    Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
    Nói ra am chúa bội quân
    Ðương thời đời trị xoay vần được đâu
    Chờ cho nhân đoản hết sau
    Ðến chừng đời ấy thấy âu nhiễu nàn
    Trời xui những kẻ ắt gian
    Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
    Vua nào tôi ấy đã bày
    Trên đầu bất chính dưới nay dấy loàn
    Ðua nhau bội bạn nghịch vi
    Ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
    Tiếc tài gẩm được thời hay
    Ðã sao như vậy ra tay sẽ dùng
    Tài trai có chí anh hùng
    Muốn làm tướng súy lập công xưng đời
    Khá xem nhiệm nhặt tội trời
    Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
    Ði tìm cho đến đế cung
    Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
    Bảo nhau cương kỷ cho tường
    Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
    Chờ cho động đất chuyển trời
    Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
    Còn bên thì náu chưa xong
    Nhân lực cướp lấy thiên công những là
    Ðời ấy những quỉ cùng ma
    Chảng còn ở thật người ta đâu là
    Trời cao đất rộng bao xa
    Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
    Dù trai ai chửa biết tường
    Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
    Ý ra lục thất gian nay
    Thời vận đã định thời nầy hưng vương
    Trí xem nhiệm nhặt cho tường
    Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
    Vua ngự thạch bàn xa thay
    Ðại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
    Gà kêu vượn hót vang lừng
    Ðường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
    Nhân dân vắng mạt bằng tờ
    Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
    Vua còn cuốc nguyệt cày mây
    Phong điều vũ thuận thú rày an dân
    Phong đăng hoà cốc chứa chang
    Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
    Chính cung phương khảm vần mây
    Thực thay thiên tử là nay trị đời
    Anh hùng trí lượng thời coi
    Công danh chẳng ngại tìm đòi ra đi
    Tìm lên đến thạch bàn khê
    Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
    Nhìn đi nhìn lại cho tường
    Dường như chửa có sinh vương đâu là
    Chảng tìm thì đến bình gia
    Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
    Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
    Tả long triều lại có thành đợt vây
    Hửu hổ uấn khúc giang này
    Minh Ðường thất diệu trước bày mặt tai
    Ở xa thấy một con voi
    Cúi đầu quen bụi trông vời hồ sâu
    Ấy điềm thiên tử về chầu
    Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời
    Song thiên nhật nguyệt sáng soi
    Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
    Ðến đời thịnh vượng còn lâu
    Ðành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
    Khuyên cho Ðông Bắc Tây Nam
    Muốn làm tướng súy thì xem trông này

    Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
    Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
    Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
    Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
    Kìa cơn gió thổi lá rung cây
    Rung Bắc sang Nam Ðông tới Tây
    Tan tác kiến kiều an đất nước
    Xác xơ cổ thụ sạch am mây
    Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
    Hưng địa tràng giang hóa nước đầy
    Một gió một yên ai sùng bái
    Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
    Con mùng búng tít con quay
    Vù vù chong chóng gió bay trên đài
    Nhà cha cửa đóng then cài
    Ầm ầm sấm động hỏi người đông lân
    Tiếc tám lạng thương nửa cân
    Biết rằng ai có du phần như ai
    Bắt tay nằm nghỉ dông dài
    Thương người có một lo hai phận mình
    Canh niên tân phá
    Tuất hợi phục sinh
    Nhị Ngũ dư bình
    Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
    Can qua tứ xứ loạn đao binh
    Mã đề dương cước anh hùng tận
    Thân dậu niên lai kiến thái bình
    Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
    Có một đàn xà đánh lộn nhau
    Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
    Lợn kia làm quái phải sai đầu
    Chuột nọ lăm le mong cản tổ
    Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
    Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
    Tìm về quê củ bắt ngựa tàu
    Cửu cửu kiền khôn dĩ định
    Thanh minh thời tiết hoa tàn
    Trực đáo dương đầu mã vĩ
    Hồ binh bát vạn nhập trường an
    Bảo Giang thiên tử xuất
    Bất chiến tự nhiên thành
    Lê dân bảo bảo noản
    Tứ hải lạc âu ca
    Dục đức thánh nhân hương
    Qua kiều cư Bắc phương
    Danh vi Nguyễn gia tử
    Kim tịch sinh ngưu lang
    Thượng đại nhân bất nhân
    Thánh ất dĩ vong ân
    Bạch hổ kim đai ấn
    Thất thập cổ lai xuân
    Bắc hữu kim thành tráng
    Nam tạc ngọc bích thành
    Hỏa thôn đa khuyển phệ
    Mục giả dục nhân canh
    Phú quí hồng trần mộng
    Bần cùng bạch phát sinh
    Anh hùng vương kiếm kích
    Manh cổ đổ thái bình
    Nam Việt hửu Ngưu tinh
    Quá thất thân thủy sinh
    Ðiạ giới sĩ vị bạch
    Thủy trầm nhi bắc kinh
    Kỷ mã xu dương tẩu
    Phù kê thăng đại minh
    Trư thử giai phong khởi
    Thìn mão xuất thái bình
    Phân phân tùng Bắc khởi
    Nhiểu nhiểu xuất Ðông chinh
    Bảo sơn thiên tử xuất
    Bất chiến tự nhiên thành
    Thủy trung tàng bảo cái
    Hứa cập thánh nhân hương
    Mộc hạ châm châm khẩu
    Danh thế xuất nan lương
    Danh vi Nguyễn gia tử
    Tinh bản tại ngưu lang
    Mại dử lê viện dưỡng
    Khởi nguyệt bộ đại giang
    Hoặc kiều tam lộng ngạn
    Hoặc ngụ kim lăng cương
    Thiên dử thần thực thụy
    Thụy trình ngũ sắc quang
    Kim kê khai lựu điệp
    Hoàng cái xuất quí phương
    Nhân nghĩa thùy vi địch
    Ðạo đức thực dữ đương
    Tộ truyền nhị thập ngủ
    Vận khải ngủ viên trường
    Vận đáo dương hầu ách
    Chấn đoài cương bất trường
    Quần gian đạo danh tự
    Bách tính khổ tai ương
    Can qua tranh đấu khởi
    Phạm địch tánh hung hoang
    Ma vương sát đại quỉ
    Hoàng thiên tru ma vương
    Kiền khôn phú tai vô lương
    Ðào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
    Cơ nhị ngủ thư hùng vị quyết
    Ðảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
    Ta hồ vô phụ vô quân
    Ðào viên tán lạc ngô dân thủ thành
    Ðoài phương phước điạ giáng linh
    Cửu trùng thụy ứng long thành ngủ vân
    Phá điền thiên tử giáng trần
    Dũng sĩ nhược hai mưu thần như lâm
    Trần công nai thị phúc tâm
    Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
    Tướng thần hệ xuất y chu
    Thứ kỵ phục kiến Ðường ngu thi hành
    Hiệu xưng thiên hạ thái bình
    Ðông Tây vô sự Nam thành quốc gia
    *************************
    Sấm Trạng Trình
    Vô Ngại Tăng
    Ðăng ở http://pub11.ezboard.com/bconheocommunity1045 


    SẤM KÝ 02

    Chừng nào thằng ngóc làm vua,
    Thế gian cạo trọc, thầy chùa để râu.
    Cuộc đời ai dể biết đâu,
    Yêu tinh đặng thế bóp đầu Thần Tiên.

    Quan làng ỷ thế, ỷ quyền,
    Dẩu khôn giả dại mới yên phận mình.
    Mặc ai khi rẻ khi khinh,
    Việc làng, việc nước làm thinh chớ bàn.

    Ta tin ta mới đặng an,
    Quan làng bè bạn chỉ đàn chó trâu.
    Việc người thì mặc người âu,
    Nghiên tai giả điếc, lắc đầu làm ngơ.

    Muốn yên mình lặng như tờ,
    Dân bàn việc nước thì khô xác mình.
    Bởi đời quốc thể bù nhìn,
    Quan làng tàn bạo sinh linh tơi bời.

    Dân quân thảm khổ nơi nơi,
    Quốc hồn mờ ám hỡi ơi thế quyền.
    Nước nhà khuynh đảo ngửa nghiên,
    Quan tham hại nước lợi riêng cho mình.

    ……………………………………
    Sớm ưa, trưa ghét nhơn tình đời ni.
    Ai hiện tiền hiểm thế tiên tri,
    Không tiền không thế người khi ngu đần.
    Chớ hà hiếp lo riêng cần,
    Đến nơi Tiên Phật, Thánh Thần chẳng an.

    Nghèo nên bô gổng chốc giàu sang,
    Đứa ngu đổi bạn ra đàng gọi khôn.
    Bởi đời toàn lũ cô hồn,
    Khinh khi nhơn nghĩa, trọng tôn bạc tiền.

    Đứa ngu đội lốt Thần Tiên,
    Mở miệng thì rặc vô duyên một giòng.
    Chừng nào cây sắc trổ bông,
    Đường đèn như mực, Lạc Hồng tai thi.

    Trung thần ái quốc để khi,
    Phản thần mãi quốc nên khi để đời.
    Thức thì thế sự bỏ trôi,
    Ngáy không nhầm lúc dể bơi hại mình.

    Trung thần ái quốc để khi,
    Phản thần mãi quốc nên ghi để đời.
    Thức thì thế sự bỏ rơi,
    Ngáy không nhầm lúc dể bơi hại mình.

    Võ quan, võ tướng vô tình,
    Trung không cùng chúa, cũng không ích gì?
    Chừng nào lúa mọc trên chì,
    Voi đi trên giấy đến kỳ Đông Chu.

    Trí thời giả điếc, giả ngu,
    Khôn thì giả dại là tu lấy mình.
    Cầm quyền toàn lũ yêu tinh,
    Oan nhiều mạng thác cũng sinh hai đời.

    Mua quan bán chức lấy lời,
    Hại dân, hại nước coi trời như không.
    Bì trung cốt nịnh rặt rồng,
    Kết phe kết đảng nối lòng phải nguyên.

    Nồi da xáo thịt ngổ thay,
    Miễng mình béo mở mặc ai ốm gầy.
    Cáo kia mượn kế hại cầy,
    Mẹ cha ư nịnh giết bầy con ngu.

    Động tâm Thượng Đế dạy ru,
    Xuống nhiều tai họa xuân thu sửa lần.
    Gió sầu mưa thảm cõi trần,
    Thiên quan đại chấn quần thần ngó xem.

    Canh Tân xuất mịt mù hôm,
    Nhâm Tý bảng lảng ngoài đem binh vào.
    Giáp thì thấy rõ binh đao,
    Ất thì chiến họa xâm vào tràn lan.

    Thiên tai chiến sự đa đoan,
    Quốc dân nghiêng ngửa tham quan hại đời.
    Phản thần bán nước khi Trời,
    Gọi rằng trung trực hởi ôi thế tình.

    Nhựt hữu hiệu sơn nhứt nhựt binh,
    Tám giang khi địa nhị nhị giang.
    Kim tú chầu tại lac thế trần khôn,
    Ngu hại hườn chung khổ hại mình.

    Sát dân xung tận cung đình,
    Thiên oai chấn nộ luật hình ban ra.
    Mười phần mất bảy còn ba,
    Mất hai còn một mới ra thái bình.

    Trục kia chơi với Đồng Minh,
    Hai sông khô cạn nghiệt tinh tỏ ngời.
    Ra oai đánh dẹp mọi nơi,
    Năm châu bốn biển thây phơi thập trùng.

    Mùa xuân gió mát lạnh lùng,
    Cua kình trở giọng về cùng lũ dê.
    Cuộc đời như thể trò hề,
    Nực cười lũ chó còn mê lợi quyền.

    Sình ương khó nổi xào chiên,
    Quốc dân nghiêng ngửa đảo điên bốn bề.
    Ra đi thì khó nổi về,
    Ghe kia hết bánh thả về không trôi.

    Chừng nào Chợ Lớn hết vôi,
    Biển Đông hết cá cuộc đời lao đao.
    Lò rèn hết thép rèn đao,
    Hết đồng đút đỉnh, hết thao bán nồi.

    Chị đem bán một lời mười,
    Gạo châu cũi quế tiếng người than van.
    Giả bộ quá sánh bạc vàng,
    Kẻ đói người rách lan tràng chợ quê.

    Tiết trời đánh đổ bông huê,
    Nhân dân phải chịu thảm thê hận sầu.
    Đại bàn xuống phá đài lầu,
    Ngạc ngư phóng tặc thuyền tàu tan hoang.

    Rồi Nam cũng chịu lầm than,
    Phương Đông ba tỉnh phải mang họa sầu.
    Trớ triêu cảnh sắp nhiệm mầu,
    Phồn hoa đô thị thành sầu đớn đau.

    Cuộc đời gẫm thật cơ cầu,
    Trung thua quyền nịnh, Tiên hầu quỉ ma.
    Khỉ đoàn giật cập mảng xà,
    Trăng tròn chính một thì ta xuống hầm.

    Yêu đương cũng phải lạc lầm,
    Sáu nơi khói lửa sấm gầm Sài Môn.
    Nghèo hèn không có quách chôn,
    Giàu thần quyền thế biết khôn lánh rồi.

    Nhưng mà họa có đâu thôi,
    Bầy con bế cái nổi trôi đầy đàng.
    Đến hồi quốc gia lâm nàn,
    Chư Tiên ẩn mặt cường quan độc quyền.

    Càng ngày càng đảo càng điên,
    Thân ta như thể thân chiên đánh tròn.
    Ô hô! Giống khéo giống khôn,
    Vậy thì phải trả xác hồn lìa xa.

    Thịt rơi xương nát máu ra,
    Thầy Tăng chẳng chịu ở nhà Phù Tang.
    Sưu cao thuế nặng ta mang,
    Đàng ta mới biết xa đàng nặng cân.

    Thân dậu lánh về hương lâu,
    Miễn gần Sài Thành đến gẫu bỏ thi.
    Cái năm chiến họa loạn ly,
    Mưa tai gió hại họa vì tham lam.

    Nhân dân khốn khổ đa đoan,
    Mọi bề khốn khổ lại là bằng hai.
    Tu hành hiền hậu chết hoài,
    Hoa ngoa gian trá sống dai chật đàng.

    Cơ Trời định vậy chớ than,
    Thưởng dòng điệu nghiệt hành tàng đấy ư.
    Đầu xuân gà gáy hăm tư, (1)
    Thầy tăng đấn hạng hoa trư tuyệt kỳ.

    Thiên cơ máy tạo huyền vi,
    Tuần hườn máy tạo ai thì có hay.
    Nực cười cho lũ cân đai,
    Tôi tôi chúa chúa hôm nay Sở Tần.

    Xuân phân cho đến thu phân,
    Quốc dân điên đảo thần dân rối nuồi.
    Bước buồn, bước tuổi vui vui,
    Tiếng thì để tiếng, muốn lui lần lần.

    Rồi đây bày tỏ trung thần,
    Trời cho Tiên Phật xuống trần trị yêu,
    Văn minh cơ khí đủ điều,
    Cọp đồng, gấu sắt, phi phiêu thủy hành.

    Phong luân hòa giống lợi danh,
    Kết phe lập đảng tranh giành thế vi.
    Năm châu nổi tiếng một khi,
    Chuồn bay khói tỏa tử thi như bèo.

    Mưa dầu nắng lửa sấm reo,
    Hai loài xâu xé họa gieo dân lành.
    Đảng nhân đại bại tan tành,
    Cầu cùng đảng Cộng ra tranh chiếu cùn.

    Tù binh mãi mã chiêu hùng,
    Núp lưng Đảng Cộng trung hưng nươc nhà.
    Rồi sau sinh sự bất hòa,
    Lại còn Đảng Cộng can qua chiến trường.

    Non cao biển cả đôi đường,
    Phân ranh biên giới đôi đường mới an.
    Vừng hồng rọi khắp bốn phan,
    Tây phương muốn gió tầm đường đào vong.

    Bập bồng Tần Quốc bập bồng,
    Là nơi chiến địa máu hồng chảy lan.
    Hải hồ rửa máu nghỉ an,
    Tiểu Âu hầu Á Thiên Hoàng định thân.

    Thân gà dạ khỉ đấy chừ,
    Thì là ngọn lửa mới thu vậy lần.
    Kỳ phan thay đổi cuộc trần,
    Chó kia gặp chủ nó còn sảu ru.

    Quân minh đặt sự an nhu,
    Heo kia thong thả ngao du đầy đàn.
    Chuột mừng gặp cảnh bình an,
    Trâu kia thong thả nghinh ngang đầy điền.

    Cọp rài làm chúa lâm viên,
    Quân thần cọp lạc miên miên Cửu Trùng


    SẤM KÝ 03

    Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
    Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
    Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
    Đã bao lần ngôi nước đổi thay,
    Núi sông thiên định đặt bày,
    Đồ thư một quyển xem nay mới rành.
    Hoà đao mộc lạc,
    Thập bát tử thành,
    Đông Á nhật xuất,
    Dị mộc tái sinh.
    Chấn cung xuất nhật,
    Đoài cung vẫn tinh,
    Phụ nguyên chi thống,
    Đế phế vi đinh.
    Thập niên dư chiến,
    Thiên hạ cửu bình.
    Lời thần trước đã ứng linh,
    Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
    Hoà đao mộc hồi dương sống lại.
    Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương,
    Hà thời biện lại vi vương,,
    Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.
    Lê tồn Trịnh tại,
    Trịnh bại Lê vong.
    Bao giờ ngựa đá sang sông,
    Thì dân Vĩnh Lại Quận Công cả làng.
    Hà thời thạch mã độ giang,
    Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.
    Chim bàng cất cánh về đâu?
    Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công.
    Bao giờ trúc mọc qua sông,
    Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.
    Đoài cung một sớm đổi thay,
    Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
    Đầu cha lộn xuống thân con,
    Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.
    Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
    Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
    Dực lòng chinh chiến u ê,
    Thập trên tứ dưới nhất đề chữ tâm.
    Để loài bạch quỉ Nam xâm,
    Làm cho trăm học khổ trầm lưu ly.

    Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy,
    Gia đình một ở ba đi dần dần.
    Cho hay những gã công hầu,
    Giàu sang biết gởi nơi đâu chuyện nầy.

    Kìa kìa lá thổi lá rung cây,
    Rung Bắc, rung Nam, rung tới Tây.
    Tan tác kiến kiều an đất nước,
    Xác sơ cổ thụ, sạch am mây.
    Lâm giang nổi sống mù thao cát,
    Hưng địa tràng dâng hỏa nước đầy.
    Một ngựa một yên ai sùng bái,
    Nhận con nhà vĩnh bảo cho hay.
    Đổ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.

    Dứt năm hai bảy mười ba (1937)
    Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây. (Pasquies)
    Rồng nằm bể cạn dể hay,
    Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
    Ngựa đã gát yên không người cởi,
    Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.
    Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
    Gà kia vỗ cánh trập trùng bay.
    Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,
    Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.
    Nói cho hay khảm cung ong dậy,
    Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
    Chữ rằng lục thất nguyệt gian,
    Ai mà giữ được mới nên anh tài.
    Ra tay điều đỉnh bộ mai,
    Bấy giờ mới rõ là người an dân.
    Lọ là phải nhọc kéo quân ,
    Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
    Phá điền than đến đàn dê,
    Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng.
    Dê đi dê lại tuồn luồn,
    Đàn đi nó cũng một môn phù trì.
    Thương những kẻ nam nhi chí cả,
    Chớ vội sang tất tả chạy rong.
    Học cho biết chữ cát hung,
    Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi.
    Hễ trời sinh xuống phải thì,
    Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.
    Kìa những kẻ vội lòng phú quí,
    Xem trong mình một tí đều không.
    Ví dù có gặp ngư ông,
    Lưới giăng đâu dễ nên công mà hòng.
    Khuyên những đứng thời trung quân tử,
    Lòng trung nghĩa nên giữ cho minh.
    Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
    Thái nhâm, thái ất ….mình cho hay.
    Chớ vật vờ quen loài ong kiến,
    Hư vô bàn miệng tiếng nói không.
    “Ô hô thế sự tự bình bồng,
    Nam Bắc hà thời thiết lộ thông?
    Hồ ẩn sơn trung mao tân bạch.
    Kình cư hải ngoại huyết lưu hồng,
    Kê minh ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
    Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
    Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
    Tứ phương thiên hạ thái bình phong”.
    Ngõ may gặp hội mây rồng,
    Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
    Nước Nam thường có thánh tài,
    Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường ?
    So mấy lề đè tàng kim quỹ,
    Kề sau này ngu bỉ được coi,
    Đôi phen đất lở cát bồi,
    Đó đây ông kiến dậy trời quỷ ma.
    Ba con đổi lấy một cha,
    Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.
    Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
    Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần.
    Hoành sơn nhất đái,
    Vạn đại dung thân,
    Đến thời thiên hạ vô quân,
    Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

    Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
    Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.
    Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
    Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

    Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
    Ai mà tìm thấy mới là thần minh.
    Uy nghi dung mạo khác hình,
    Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.

    Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
    Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân.
    Binh thư mấy quyển kinh luân,
    Thiên văn, địa lý, nhân dân phép mầu.

    Xem ý trời ngỏ hầu khải thánh,
    Dốc sinh ra điều chỉnh bộ mai.
    Song thiên nhật nguyệt sáng soi,
    Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường.

    Thông minh kim cổ khác thường,
    Thuấn Nghêu là trí, Cao Quang là tài.
    Đấng hiên ngang nào ai biết trước,
    Tài thao lược yêm bác vũ văn.
    Ai còn khoe trí khoe năng,
    Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

    Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
    Chốc lại mòng gá vạ cho dân.
    Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
    Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.

    Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán,
    Lại đua nhau quần thán đồ lê.
    Chức nầy quyền nọ say mê,
    Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương.

    Kẻ thì phải thuở hung hoang,
    Kẻ thì bận của bóng toan khốn mình.

    Cửu cửu càn khôn dĩ định, (9x9=81)
    Thanh minh thời tiết hoa tàn.
    Trức đáo dương đầu mã vĩ,
    Hồ binh bát vạn nhập Trường an.

    Nực cuời những kẻ bàng quan,
    Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
    Lại còn áo mũ xum xoe,
    Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

    Ghê thay thau lẫn lộni vàng,
    Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
    Thành ra tuyết tán mây tan,
    Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

    Can qua việc nước tơi bời,
    Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân.
    Oai phong khấp quỷ kinh thần,
    Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.

    Rừng xanh núi đỏ bao la,
    Đông tàn Tây bại sang gà mới yên.
    Sửu, Dần thiên hạ đảo điên,
    Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

    Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
    Can qua xứ xứ khổ đao binh.
    Mã đề dương cước anh hùng tậu,
    Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

    Sự đời tính đã phân minh,
    Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau.
    Đầu thu gà gáy xôn xao,
    Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

    Chó kêu ầm ỉ mùa Đông,
    Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi.
    Lợn kêu tình thế lâm nguy,
    Quỷ vương chết giữa đường đi trên trời.

    Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi,
    Trâu cày ngốc lại chào đời trước ta.
    Hùm gầm khắp nẻo gần xa,
    Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời.

    Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
    Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng.
    Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng,
    Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.

    Chín con rồng lộn khắp nơi,
    Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu.
    Lời truyền để lại bấy nhiêu,
    Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong.

    Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
    Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
    Đầu can vô tướng ra binh,
    Ắt là trăn họ thái bình âu ca.

    Thân Kinh Thái Aát suy ra,
    Để danh con cháu đem ra nghiệm bàn.
    Ngay thường xem thấy quyển vàng,
    Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi.

    Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
    Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân.
    Kể từ đời Lạc Long Quân,
    Đắp đổi xoay vần đến lúc thất gian.

    Mỗi đời có một tội ngoan,
    Giúp chung nhà nước dân an thái bình.

    Phú quí hồng trần mộng,
    Bần cùng bạch phát sinh.
    Hoa thôn đa khuyển phệ,
    Mục giả giục nhân canh.
    Bắc hữu Kim thành tráng,
    Nam hữu Ngọc bích thành.
    Phân phân tùng bách khởi,
    Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh.
    Bảo giang thiên tử xuất,
    Bất chiến tự nhiên thành.

    Rồi đây mới biết thánh minh,
    Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
    Nhị Hà một dải quanh co,
    Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào.

    Khắp hoà thiên hạ nao nao,
    Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng ?

    Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
    Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu ?
    Bấy lâu những cậy phép mầu,
    Bây giờ phép ấy để lâu không hào.

    Cũng có kẻ non trèo biển lội,
    Lánh mình vào ở nội Ngô, Tề.
    Có thầy Nhân Thập đi về,
    Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.

    Những người phụ giúp thánh minh,
    Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.
    Phùng thời nay hội thái lai,
    Can qua chiến trận để người thưởng công.

    Trẻ già được biết sư lòng,
    Ghi làm một bản để hòng dở xem.
    Đời này những Thánh cùng Tiên,
    Sinh những người hiền trị nước an dân.
    ….
    Nầy những lúc thánh nhân chưa lại,
    Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
    Khuyên ai sớm biết khuông phù,
    Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu.
    Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏm,
    Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
    Thấy Sấm từ đây chép vào,
    Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét