.

4/1/11

Vài tác phẩm trong tập Bạch vân quốc ngữ thi tập (Sưu tầm )


Công đức

____________________________________________________________________________________
  • MÙA THU ĐI CHƠI THUYỀN

    Nước xuôi, nước ngược sóng dân triều,
    Thuyền khách chơi thu nọ phải dìu.
    Chèo vượt bóng trăng nhân lúc hứng,
    Buồm giong ngọn gió mặc cơn siêu.
    Phơ phơ đầu bạc ông câu cá.
    Leo lẻo dòng xanh con mắt mèo.
    Le vịt cúng ta như có ý,
    Đến đâu thời cũng thấy đi theo.
  • KHUYÊN NHŨ NGƯỜI ĐỜI

    Chớ chê người ngắn cậy ta dài,
    Hơn kém dù ai cũng mặc ai.
    Vị nọ có bùi, không có ngọt,
    Thức kia chầy thắm lại chầy phai.
    Đã hay phận định đành yên phận,
    Dẫu có tài hay chớ cậy tài.
    Quân tử ngẩm xem nơi xuất xử,
    Ắt là khôn hết cả hoài hai.
  • VĨ HÒA VI QUÍ


    Ở thì đừng tranh tiếng trượng phu,
    Làm chi cho cớ sự đôi co.
    Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn,
    Đấy rằng đấy phải đấy không thua.
    Duật nọ hãy còn đua với bạn,
    Lương kia hầu dể kém chi cò.
    Chữ rằng: “Nhẫn vĩ hòa vi quí”,
    Vô sự thì hơn khỏi phải lo.
  • TỰ THÁN

    Gần son thì đỏ, mực thì đen,
    Sáng biết nhờ ơn thửa bóng đèn.
    Ăn uống miễn theo nơi phép tắc,
    Tới lui cho biết kẻ kinh quyền.
    Chẳng nên mặc thế, người lành dữ,
    Giáo giỗ thấy ai thói đảo điên.
    Ở thế có khôn thời có khó,
    Chữ rằng “Vô sự tiểu Thần Tiên”.
  • CẢM ĐỀ :

    Thanh nhàn vô sự là tiên,
    Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi.
    Cơ tạo hoá, Phép đổi dời,
    Đầu non mây khói toả,
    Mặt nước cánh buồm trôi,
    Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
    Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
    Tuổi già thua kém bạn,
    Văn chương gởi lại đời,
    Dở hay nên tự lòng người cả,
    Bút nghiên soi hoa chép mấy lời.
    Bí truyền cho con cháu,
    Dành hậu thế xem chơi
  • THÚ THÔN CƯ

    Một mai, một cuốc, một cần câu,
    Thơ thẩn dẩu ai vui thú nào?
    Ta dại ta tìm nơi vắn vẻ,
    Người khôn người đến chốn lao xao.
    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
    Xuân ẩn hồ sen, hạ tắm ao.
    Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp,
    Nhìn xem phú quí tợ chiêm bao.
  • THẬP THỦ LIÊN HƯỜN

    ngày 2-9-1925 Ngài giáng cơ cho bài thập thủ liên hườn khi xây bàn do Đức Hộ Pháp và Đức Cao Thượng Phẩm cầu vị.

    I
    Âm dương tuy cách cũng Trời chung,
    Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.
    Thắt dạ thuyền đưa không đậu bến,
    Đau lòng Hạc cũ chẳng về tùng.
    Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi,
    Ngước mặt ngơ trông bậc chín trùng.
    Mạnh yếu hai ngôi cam chịu vậy,
    Hay chi cá chậu với chim lồng.

    II
    Chim lồng bao thuở lại non xanh,
    Ngóng mặt vơi trông chốn thoát mình.
    Đựng nước chẳng ai tài tướng lược,
    Liều mình thiếu kẻ đứng hùng anh.
    Vấy thuyền chi sợ cơn giông tố,
    Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến chinh.
    Thìn dạ chờ châu về hiệp phố,
    Vì ta sự nghiệp mới tan tành.

    III
    Tan tành nhớ đến cảnh giang san,
    Lòn cúi thương dân lắm buộc ràng.
    Phú quí mồi câu con Hạc lánh,
    Đỉnh chung gió thổi đám mây tan.
    Đợi thời toan mượn cần câu Lử,
    Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới thang.
    Ly loạn gặp đời đời muốn chán,
    Công danh phủi sạch hưởng thanh nhàn.

    IV
    Thanh nhàn ngày tháng lại Tiên Gia,
    Trị loạn hằng xem thế nước nhà.
    Bể hoạn dập dồn thương bầy trẻ,
    Thành sầu chất chứa cám cho già.
    Bạc đầu non chịu lằng sương nhuộm,
    Nhăn mặt nước chờ ngọn gió qua.
    Thân ái mối dây tau nắm chặt,
    Chít chiu ấy cũng một bầy gà.

    V
    Bầy gà mất mẹ kiếm bơ vơ,
    Yếu đuối biết ai để cậy nhờ.
    Nắng hạn trông mưa trông mõi mắt,
    Đắng cay mộ nước mộ lòng chờ.
    Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh,
    Võ thiếu binh nhung Quốc thiếu cờ.
    Trí chúa tôi hiền không gặp chúa,
    Nào người gánh nổi mối xa thơ?

    VI
    Xa thơ bầu ngã nước nhà nghiên,
    Ai giữ phong cương đặng vững bền.
    Đấp lũy cổ loa chưa mấy mặt,
    Lắp hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên.
    Thăng Long bao thuở nung hùng khí,
    Gia Định tự nhiên chấp ấn quyền.
    Sông núi dật dờ chờ tạo khách,
    Hóa sông nên dạo, núi nên thiền.

    VII
    Nên Thiền thì trước lập nên dân,
    Chín bệ xem qua chẳng trí quân.
    Ích nước xủ tay khoe đạp áo,
    Lợi nhà vổ bụng hưởng tròn thân.
    Nam Giao vắng vẽ đường cung kiếm,
    Văn miếu khô khan ngọn bút Thần.
    Danh lợi ru hầu quên thổ vỏ,
    Thẹn loài bộc lại mộ đai cân.

    VIII
    Đai cân đã có vẽ chi chưa,
    Hay phận tù lao kiếp sống thừa.
    Đập đất gập ghìng chơn kẻ dại,
    Ngừa thời điên đảo tú già xưa.
    Ngồi hang thương kẻ mang da chó,
    Ngự điệu ghét quân đội lốt lừa.
    Cái nhục giống nồi kia chẳng rửa,
    Xoi hạo mạch nước ý chưa vừa.

    IX
    Chưa vừa mông mị với Tây tà,
    Dụ xác vong hồn dựa khách ma.
    Tiêu hủy thân cây làn lữa táp,
    Tan tành hình nộm trận mưa qua.
    Rước voi phá mã đào băng miếu,
    Thả rắn xua ong nhiễu Điện Tòa.
    Đỗ lụy hỏi người sao chẳng nhớ?
    Ngọn rau tất đất nước nhà ta.

    X
    Nước nhà ta có tiếng anh phong,
    Vẻ đẹp trời đông sắc Lạc Hồng.
    Nam Hải trổ nhiều trang thạnh đức,
    Giao Châu sanh lắm bậc anh hùng.
    Tinh trung lửa thét thành Bình Định, (1)
    Khí liệt gươm đề tỉnh Quản Đông. (2)
    Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn,
    Chỉ còn dị chủng đến dâng công.

    Thanh Sơn Đạo Sĩ



0 nhận xét:

Đăng nhận xét