Sáng tác: Huỳnh Uy Dũng
LỜI THƯA
Hùng Vương là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta, mà Hùng Vương có những mười tám(18) đời, mỗi đời lại có đôi, có ba, có bốn… Chi, (hay có thể nói ngược lại: Hùng Vương có mười tám (18) Chi, mỗi Chi lại có đôi, ba, bốn đời), mà cũng phải như vậy mới được. Vì thời kì lịch sử Hùng Vương kéo dài đến những hai sáu hai một (2621) năm. Nếu không gồm chứa nhiều Chi hoặc nhiều đời thì thực khó mà giải thích.
Vậy, tóm lại Hùng Vương với mười tám (18) đời, là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta. Ngày nay về mặt văn tự, ta không có gì để chứng minh, nhưng qua những Chi Chi và đặc biệt là qua những truyền thuyết, chúng ta có thể hình dung ra một thời kì các Vua Hùng ấy. Đó là một cái gì rất đẹp, rất khỏe, rất thơ và rất đạo. Đặc biệt là qua những chuyện cổ tích. Trong đó ẩn giấu những thông điệp của tổ tiên Hồng Lạc. Với tập Sử Thi này, chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giải mã các thông điệp nói trên để tỏ chút lòng hiếu kính.
Mong quý bạn đọc chỉ bảo cho những điều sơ sót.
Kính bút
Huỳnh Uy Dũng
TẠ ƠN QUỐC TỔ
Một nhà văn nào đó có nói: nếu anh không có lòng biết ơn, anh không có gì cả. May thay, lành thay: Dân tộc Việt Nam chúng ta là một dân tộc biết ơn lắm! Biết ơn cuộc sống, biết ơn đất nước, biết ơn ông bà cha mẹ, biết ơn thầy cô- biết ơn tất cả. Và trong những điều biết ơn vô giá ấy, có niềm biết ơn Tổ Tiên Cội Nguồn.
Đây không phải là lời nói suông, lời khen suông.
Cứ đọc trong sách, cứ nhìn trong đời, chúng ta có thể bắt gặp lòng biết ơn này. Khắp nơi từ Bắc chí Nam, tận rừng sâu núi thẳm, tận ngõ hẻm hang cùng, đâu đâu cũng có bóng của những ngôi đền thờ Quốc Tổ, hầu hết do chính người dân tự nguyện dựng lên để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc. Lòng biết ơn ấy mới quý giá làm sao!
Nó giúp chúng ta lớn lên thành người. Nó ban cho chúng ta các đức tính tự hào, tự tin, tự trọng. Còn hơn thế nữa, nó giúp chúng ta giữ được nước, dựng được nhà.
Và hôm nay chúng ta họp mặt nhau đây cũng là do công biết ơn ấy.
Vì lòng biết ơn ấy để cùng lắng lòng niệm ơn các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta, đã dầy công gầy dựng nên nước non này. Cho chúng ta có cội mà nhớ, có nguồn mà thương, có Xã Tắc mà vững Âu Vàng, có Sơn Hà mà bon ngựa đá, có Quốc Tổ để chúng ta vinh hạnh làm người.
Hôm nay chúng ta họp mặt ở đây. Một là để thêm một lần nữa trong những ngàn lần tưởng niệm công ơn dựng nước của các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta. Hai là để nhắc nhở nhau nỗ lực để giữ lấy nước mình, giữ lấy nền độc lập tự do của nước mình, giữ lấy hạnh phúc của dân mình. Giữ lấy và củng cố thêm, cho mỗi ngày thêm lớn, thêm cao, thêm rộng.
Cùng với độc lập tự do và hạnh phúc, nhân phẩm của dân tộc ta ngày một thêm rộng lớn, như núi Trường Sơn như biển Thái Bình và như lịch sử huy hoàng trên bốn ngàn năm Đại Nam Văn Hiến.
*Chi gọi là nhánh, là nhiều đời gọi là chi
Mười tám chi ấy như sau:
CHI CÀN
Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 TCN) lên ngôi năm 41 tuổi. Tại ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879-TCN) đến năm Đinh Hợi (2794- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng.
CHI KHẢM
Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825-TCN) lên ngôi năm 33 tuổi. Chi này tại ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương. Từ năm Mậu Tý (2797- TCN) đến năm Bính Thân (2525-TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Hoàng Đế ( Ngũ Đế).
CHI CẤN
Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân Lang, sinh năm Canh Ngọ (2570- TCN), lên ngôi khi 18 tuổi, các đời vua đều xưng là Hùng Quốc Vương, tại ngôi tất cả 272 năm. Từ năm Đinh Tỵ (2524- TCN). Ngang với Trung Quốc thời Đế Thuấn, Đế Nghiêu.
CHI CHẤN
Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 TCN). Đều xưng là Hùng Hoa Vương, tại ngôi tất cả 342 năm từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến năm Mậu Thìn (1913- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ
CHI TỐN
Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030- TCN) lên ngôi khi 59 tuổi đều xưng là Hùng Hy Vương, tại ngôi tất cả 200 năm. Từ năm Kỷ Tỵ (1713- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lý Qúy ( Kiệt ) nhà Hạ
CHI LY
Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740- TCN) lên ngôi khi 29 tuổi. Truyền hai đời vua, tại ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương. Từ năm Kỷ Sửu (1712- TCN) đến năm Kỷ Dậu (1632- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Đinh nhà Thương.
CHI KHÔN
Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Qúy Tỵ (1768- TCN) lên ngôi khi 18 tuổi. Truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, tại ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631- TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1432- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương.
CHI ĐOÀI
Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469- TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vỹ Vương, tại ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431- TCN) đến năm Kỷ Dậu ( 1332- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương.
CHI GIÁP
Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375- TCN) lên ngôi khi 45 tuổi. Truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Định Vương, tại ngôi tất cả 80 năm, từ năm Canh Tuất(1331-TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1252- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.
CHI ẤT
Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287-TCN). Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 90 năm. Từ năm Canh Ngọ (1251-TCN) đến năm Kỷ Hợi (1162- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.
CHI BÍNH
Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang sinh năm Canh Tuất (1211- TCN) lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Trinh Vương, tại ngôi tất cả 107 năm. Từ năm Canh Tý (1161- TCN) đến năm Bính Tuất (1055- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu.
CHI ĐINH
Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105- TCN) lên ngôi khi 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, tại ngôi tất cả 86 năm. Từ năm Đinh Hợi (1054- TCN) đến năm Nhâm Tuất (965- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.
CHI MẬU
Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982- TCN), lên ngôi khi 23 tuổi, truyền năm đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, tại ngôi tất cả 115 năm. Từ năm Qúy Hợi (968- TCN) đến năm Đinh Mùi (853- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.
CHI KỶ
Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894- TCN) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Anh Vương, tại ngôi tất cả 99 năm. Từ năm (853 đến 755- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu.
CHI CANH
Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Qúy Sửu (748- TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Triệu Vương, tại ngôi tất cả 94 năm. Từ năm Đinh Hợi (754- TCN) đến năm Canh Thân (661- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu.
CHI TÂN
Hùng Tạo Vương, húy Đức Lang Quân, sinh năm Kỷ Tỵ (712- TCN). Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 92 năm. Từ năm Tân Dậu (660- TCN) đến năm Nhâm Thìn (569- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu.
CHI NHÂM
Hùng Nghi Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576- TCN), lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Nghị Vương, tại ngôi tất cả 160 năm. Từ năm Qúy Tỵ (568- TCN) đến năm Nhâm Thân (409- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu.
CHI QUÝ
Hùng Duệ Vương, húy Huệ Lang sinh năm Canh Thân (421- TCN) lên ngôi khi 14 tuổi, truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 150 năm. Từ năm Qúy Dậu (408- TCN) đến năm Qúy Mão (258- TCN). Ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu Trung Quốc.
Tác giả: Huỳnh Uy Dũng
Hùng Vương là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta, mà Hùng Vương có những mười tám(18) đời, mỗi đời lại có đôi, có ba, có bốn… Chi, (hay có thể nói ngược lại: Hùng Vương có mười tám (18) Chi, mỗi Chi lại có đôi, ba, bốn đời), mà cũng phải như vậy mới được. Vì thời kì lịch sử Hùng Vương kéo dài đến những hai sáu hai một (2621) năm. Nếu không gồm chứa nhiều Chi hoặc nhiều đời thì thực khó mà giải thích.
Vậy, tóm lại Hùng Vương với mười tám (18) đời, là biểu tượng của Quốc Tổ nước ta. Ngày nay về mặt văn tự, ta không có gì để chứng minh, nhưng qua những Chi Chi và đặc biệt là qua những truyền thuyết, chúng ta có thể hình dung ra một thời kì các Vua Hùng ấy. Đó là một cái gì rất đẹp, rất khỏe, rất thơ và rất đạo. Đặc biệt là qua những chuyện cổ tích. Trong đó ẩn giấu những thông điệp của tổ tiên Hồng Lạc. Với tập Sử Thi này, chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giải mã các thông điệp nói trên để tỏ chút lòng hiếu kính.
Mong quý bạn đọc chỉ bảo cho những điều sơ sót.
Kính bút
Huỳnh Uy Dũng
TẠ ƠN QUỐC TỔ
Một nhà văn nào đó có nói: nếu anh không có lòng biết ơn, anh không có gì cả. May thay, lành thay: Dân tộc Việt Nam chúng ta là một dân tộc biết ơn lắm! Biết ơn cuộc sống, biết ơn đất nước, biết ơn ông bà cha mẹ, biết ơn thầy cô- biết ơn tất cả. Và trong những điều biết ơn vô giá ấy, có niềm biết ơn Tổ Tiên Cội Nguồn.
Đây không phải là lời nói suông, lời khen suông.
Cứ đọc trong sách, cứ nhìn trong đời, chúng ta có thể bắt gặp lòng biết ơn này. Khắp nơi từ Bắc chí Nam, tận rừng sâu núi thẳm, tận ngõ hẻm hang cùng, đâu đâu cũng có bóng của những ngôi đền thờ Quốc Tổ, hầu hết do chính người dân tự nguyện dựng lên để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc. Lòng biết ơn ấy mới quý giá làm sao!
Nó giúp chúng ta lớn lên thành người. Nó ban cho chúng ta các đức tính tự hào, tự tin, tự trọng. Còn hơn thế nữa, nó giúp chúng ta giữ được nước, dựng được nhà.
Và hôm nay chúng ta họp mặt nhau đây cũng là do công biết ơn ấy.
Vì lòng biết ơn ấy để cùng lắng lòng niệm ơn các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta, đã dầy công gầy dựng nên nước non này. Cho chúng ta có cội mà nhớ, có nguồn mà thương, có Xã Tắc mà vững Âu Vàng, có Sơn Hà mà bon ngựa đá, có Quốc Tổ để chúng ta vinh hạnh làm người.
Hôm nay chúng ta họp mặt ở đây. Một là để thêm một lần nữa trong những ngàn lần tưởng niệm công ơn dựng nước của các Vua Hùng, Quốc Tổ của chúng ta. Hai là để nhắc nhở nhau nỗ lực để giữ lấy nước mình, giữ lấy nền độc lập tự do của nước mình, giữ lấy hạnh phúc của dân mình. Giữ lấy và củng cố thêm, cho mỗi ngày thêm lớn, thêm cao, thêm rộng.
Cùng với độc lập tự do và hạnh phúc, nhân phẩm của dân tộc ta ngày một thêm rộng lớn, như núi Trường Sơn như biển Thái Bình và như lịch sử huy hoàng trên bốn ngàn năm Đại Nam Văn Hiến.
*Chi gọi là nhánh, là nhiều đời gọi là chi
Mười tám chi ấy như sau:
CHI CÀN
Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 TCN) lên ngôi năm 41 tuổi. Tại ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879-TCN) đến năm Đinh Hợi (2794- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng.
CHI KHẢM
Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825-TCN) lên ngôi năm 33 tuổi. Chi này tại ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương. Từ năm Mậu Tý (2797- TCN) đến năm Bính Thân (2525-TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Hoàng Đế ( Ngũ Đế).
CHI CẤN
Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân Lang, sinh năm Canh Ngọ (2570- TCN), lên ngôi khi 18 tuổi, các đời vua đều xưng là Hùng Quốc Vương, tại ngôi tất cả 272 năm. Từ năm Đinh Tỵ (2524- TCN). Ngang với Trung Quốc thời Đế Thuấn, Đế Nghiêu.
CHI CHẤN
Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 TCN). Đều xưng là Hùng Hoa Vương, tại ngôi tất cả 342 năm từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến năm Mậu Thìn (1913- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ
CHI TỐN
Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030- TCN) lên ngôi khi 59 tuổi đều xưng là Hùng Hy Vương, tại ngôi tất cả 200 năm. Từ năm Kỷ Tỵ (1713- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lý Qúy ( Kiệt ) nhà Hạ
CHI LY
Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740- TCN) lên ngôi khi 29 tuổi. Truyền hai đời vua, tại ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương. Từ năm Kỷ Sửu (1712- TCN) đến năm Kỷ Dậu (1632- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Đinh nhà Thương.
CHI KHÔN
Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Qúy Tỵ (1768- TCN) lên ngôi khi 18 tuổi. Truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, tại ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631- TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1432- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương.
CHI ĐOÀI
Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469- TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vỹ Vương, tại ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431- TCN) đến năm Kỷ Dậu ( 1332- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương.
CHI GIÁP
Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375- TCN) lên ngôi khi 45 tuổi. Truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Định Vương, tại ngôi tất cả 80 năm, từ năm Canh Tuất(1331-TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1252- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.
CHI ẤT
Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287-TCN). Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 90 năm. Từ năm Canh Ngọ (1251-TCN) đến năm Kỷ Hợi (1162- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.
CHI BÍNH
Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang sinh năm Canh Tuất (1211- TCN) lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Trinh Vương, tại ngôi tất cả 107 năm. Từ năm Canh Tý (1161- TCN) đến năm Bính Tuất (1055- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu.
CHI ĐINH
Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105- TCN) lên ngôi khi 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, tại ngôi tất cả 86 năm. Từ năm Đinh Hợi (1054- TCN) đến năm Nhâm Tuất (965- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.
CHI MẬU
Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982- TCN), lên ngôi khi 23 tuổi, truyền năm đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, tại ngôi tất cả 115 năm. Từ năm Qúy Hợi (968- TCN) đến năm Đinh Mùi (853- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.
CHI KỶ
Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894- TCN) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Anh Vương, tại ngôi tất cả 99 năm. Từ năm (853 đến 755- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu.
CHI CANH
Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Qúy Sửu (748- TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Triệu Vương, tại ngôi tất cả 94 năm. Từ năm Đinh Hợi (754- TCN) đến năm Canh Thân (661- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu.
CHI TÂN
Hùng Tạo Vương, húy Đức Lang Quân, sinh năm Kỷ Tỵ (712- TCN). Truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 92 năm. Từ năm Tân Dậu (660- TCN) đến năm Nhâm Thìn (569- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu.
CHI NHÂM
Hùng Nghi Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576- TCN), lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Nghị Vương, tại ngôi tất cả 160 năm. Từ năm Qúy Tỵ (568- TCN) đến năm Nhâm Thân (409- TCN). Ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu.
CHI QUÝ
Hùng Duệ Vương, húy Huệ Lang sinh năm Canh Thân (421- TCN) lên ngôi khi 14 tuổi, truyền 3 đời vua, tại ngôi tất cả 150 năm. Từ năm Qúy Dậu (408- TCN) đến năm Qúy Mão (258- TCN). Ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu Trung Quốc.
Điều siêu việt nhất dân tộc Việt
Ấy phiến Tâm tha thiết cội nguồn
Bánh Dày tròn Bánh Chưng vuông
Công cha nghĩa mẹ đời khôn báo đền.
Mười tháng ba ngay thiêng Quốc Tổ
Ngày giỗ thiêng Quốc Tổ Hùng Vương
Triệu lòng nghi ngút khói hương
Tỏa mây lành khắp Hùng Sơn bạt ngàn.
Ấy là chốn từ đàng cẩm tú
Thuộc Phong Châu- Vĩnh Phú quê mình (10)
Nơi hồn Quốc Tổ quang vinh
Nơi hồn Quốc Tổ hiển linh vạn đời.
Từ đàng ấy chia ngôi ba bậc
Hạ, Trung rồi, Thượng thật phân minh
Khởi đầu Đền Giếng xinh xinh
Nơi nghìn năm thoảng bóng hình Tiên Nga.
Hai công chúa ngọc ngà kiều diễm
Là Tiên Dung rồi đến Ngọc Hoa
Hai “Tiên” từng “tắm ao nhà”
Để cho “Giếng Ngọc” trổ tòa thiên nhiên. (20)
Qua Đền Giếng bước lên Đền Hạ
Vượt hai trăm bậc đá rừng xanh
Theo lời truyền thuyết lừng danh
Mẹ Tiên trăm trứng hạ sanh Con Rồng.
Đền Hạ tọa lạc lưng chừng núi
Có ngôi chùa mở lối Tam Quan
Gác chuông vọng tiếng chuông vàng
Ngàn năm hồn Mẹ ngân vang điệu huyền.
Từ Đền Hạ, thêm trăm sáu tám (168)
Những bậc thang hùng tráng vươn mây (30)
Lên Đền Trung – chính nơi này
Các Vua Hùng đã dựng gầy triều cang.
Chốn Lang Liêu bao ngàn năm trước
Đã từng phen lập được kỳ công
Một kỳ công đẹp lạ lùng
“Kỳ công thực phẩm” bánh Chưng bánh Dày.
Một dấu ấn của ngày mở nước
Nó vuông tròn như một bài thơ
Hiếu trung nhân nghĩa dựng cờ
Kỷ cương Âu Lạc rạng tờ sử xanh. (40)
Từ Đền Trung vượt nhanh trăm bậc
Tới Đền Hùng cao nhất Hùng Sơn
Gọi là Đền Thượng – nơi thường
Diễn ra những lễ tạ ơn đất trời.
Như thể Vua Hùng đời thứ sáu
Khi giặc Ân cuồng khấu nghênh ngang
Tiến vào bờ cõi Văn Lang
Hùng Vương đã lập đàn tràng nơi đây.
Để xin đấng cao dày phù trợ
Cho thần dân giúp giữ biên cương. (50)
Thế rồi: Phù Đổng Thiên Vương
Cho ngàn năm mãi sáng gương anh hùng
Từ Đền Thượng trùng trùng điệp điệp
Trăm ngọn đồi y hệt đàn voi
Cùng quay về một hướng thôi
Y như quy phục ngôi trời Hùng Vương
Ôi cả một giang sơn hùng vĩ
Một giang sơn tú lệ vô ngần
Một giang sơn của thiên thần
Một giang sơn của nhất chân Đồng Bào (60)
Cõi phúc địa mưa rào cam vũ
Miền Nam Thiên Nhất Trụ Tâm Linh
Mười tám đời vương trị bình
Và mười tám chiếc nan xinh quạt ngà
Trên Đền Thượng gấm hoa, không chỉ
Có lăng thờ chư vị tiên hiền
Mà còn một cột đá thiêng
An Dương Vương đã dựng lên một thời
Một cột đá vời vời vậy đó
Nguyện giữ gìn nghiệp cả cha ông (70)
Giữ xã tắc giữ non sông
Để thiên thu rạng kỳ công Vua Hùng
Ngoài Đền Chính nơi Hùng Sơn nọ
Huyện Phong Châu- Phú Thọ ngày nay
Khắp nơi trên nước non này
Bốn phương nam bắc đông tây chốn nào
Hễ có mặt đồng bào Lạc Việt
Ắt có Đền chư liệt Hùng Vương
Ngoài ra, khắp chốn tha phương
Khắp năm châu, còn cơ man Việt Kiều (80)
Dẫu xa nước vẫn yêu dấu nước
Yêu nước sao quên được Hùng Vương
Và từ trăm nẻo tha phương
Vẫn về quê tổ, xin “Chân Hương” về
Ôi! Những tấm lòng quê đẹp thế
Nói cùng ta “Điều Bể Non” này
Còn mảnh đất hiếu tình đây
Thì tương lai Việt còn ngày vẻ vang
Lòng yêu tổ, lần trang sử tổ
Kinh Dương Vương vốn họ Hồng Bàng (90)
Sinh trai là Lạc Long Quân
Cưới Âu Cơ ấy Cha Rồng Mẹ Tiên
Và kết quả mối duyên thần thoại
Là trăm con thiên tải nhất thì
Dòng Bách Việt giống Long Nhi
Nửa thì theo mẹ nửa thì theo cha
Và Hùng Vương chính là con trưởng
Theo cha đi về chốn phương Nam
Dựng gầy cõi nước Văn Lang
Mười tám đời một ngai vàng Hùng Vương (100)
Phong Châu mở triều cương Quốc Tổ
Chia nước mười lăm bộ như sau
Văn Lang- Bạch Hạc- Phong Châu
Ấy kinh đô buổi ban đầu Nam Thiên
Rồi Phúc Lộc – Châu Diên – hai bộ
Nay thuộc về đất của Sơn Tây
Tân Hưng – Hưng Hóa ngày nay.
Vũ Định ấy thuộc ngày rày Thái Nguyên
Vũ Hạnh – thuộc Bắc Ninh hiện tại
Lục Hải – bây giờ gọi Lạng Sơn (110)
Dương Tuyền – nay thuộc Hải Dương.
Ninh Hải – thuộc Quảng Yên đương thời này
Giao Chỉ trước – nay là Hà Nội
Hưng Yên – Nam Định với Ninh Bình
Cửu Chân – nay gọi xứ Thanh.
Hoài Hoan – xứ Nghệ địa danh anh hào
Cửu Đức - ấy đường vào Nghệ Tĩnh
Việt Thường – Quảng hai tỉnh Trị, Bình
Quảng Bình – Quảng Trị trăm xinh.
Muôn xưa xinh đẹp bóng hình Văn Lang (120)
Các Vua Hùng giỏi dang việc nước
Mười tám đời sau trước vẻ vang
Con trai vua gọi Quan Lang.
Con gái vua gọi là nàng Mỵ Nương
Dòng giống Việt can trường thiên bẩm
Lại thêm tình nghĩa nặng thiên thu
Cứ nghe thần thoại nghìn xưa.
Đủ hay cái đẹp cái thơ của đời
Cõi Âu Lạc rạng ngời Văn Hiến
Nghĩa Tiên Rồng thể hiện âm dương (130)
Một dương thể hiện kiên cường.
Một âm thể hiện khiêm nhường nhã nhu
Dương thể hiện thần thông du hí
Ơi! con Rồng bất chiến vĩ kia
Âm thể hiện đức thuận tùy.
Ơi! nàng tiên của nhu mì đảm đang
Ơi cái nghĩa đá vàng non biển
Nghĩa vuông tròn bất biến tùy duyên
Nghĩa cha Rồng, nghĩa mẹ Tiên.
Nghìn năm Văn Hiến đẹp duyên Tiên Rồng (140)
Những pho sử Vua Hùng thần thoại
Mỗi pho là mỗi dải sông Ngân
Mỗi chương một đóa Tường Vân.
Mỗi trang là một điệu vần trái sim
Đói lòng ăn trái sim nửa trái
Một cõi lòng vạn đại dung thân
Trở về nguồn cội tiên nhân.
Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân … bao đời
Kinh Dương Vương mở đời tự chủ
Dựng gầy ngôi cửu ngũ Văn Lang (150)
Chi Càn trải mấy đời Vương.
So ngang thời đại Bắc phương: Tam Hoàng
Tám sáu (86) năm Chi Càn dựng nước
Đến Lạc Long Quân, tức Hùng Hiền
Chuyển qua Chi Khảm nối truyền.
Từ Mậu Tí đến Bính Thân nhớ chăng?
Là hai sáu chín (269) năm bình trị
Sánh ngang đời Ngũ Đế Trung Hoa
Rồi sang Chi Cấn nguy nga.
Hùng Quốc Vương tên húy là Hùng Lân (160)
Với hai bảy hai (272) năm thống trị
Kể từ năm Đinh Tỵ - so ra
Ngang đời Đế Thuấn Trung Hoa
Vua, tôi trung dựng Sơn Hà Lạc Long
Qua Chi Chấn ngôi Rồng chuyển hệ
Sang Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang
Từ Đinh Hợi, một thời gian
Ba bốn hai (342) năm sang năm Mậu Thìn
Trung Quốc Sử: niên biên nhà Hạ
Chi Tốn: truyền nghiệp cả Bảo Lang (170)
Hùng Hy Vương: một đăng quang
Hai trăm (200) năm khéo vẻ vang Tiên Rồng
Chi Ly: ấy Vua Hùng thứ sáu
Hùng Hồn Vương: Tân Dậu tuổi người
Hồn Vương truyền được hai đời
So Trung Quốc sử vào đời nhà Thương
Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương kế vị
Hai trăm (200) năm ngự trị ngai rồng
Năm đời vua, một non sông.
Mang chung vương hiệu ấy: Hùng Chiêu Vương
Chi Đoài: Hùng Vỹ Vương trị nước (181)
Năm đời vua chung một hồng danh
Trăm năm (100) vận nước Thái Bình.
Canh Ngọ - Kỷ Dậu thêm xinh Việt Thường
Chi Giáp: Hùng Định Vương cũng gọi
Ba đời Vua bằng mỗi tên này
Tám mươi (80) năm thoảng mây bay
So Trung Quốc sử ngày rày nhà Ân
Chi Ất: Hùng Uy Vương kế vị
Chín mươi (90) năm, nối trị ba đời (190)
Chi Bính: Trinh Vương lên ngôi
Trăm lẻ bảy (107) năm, với bốn đời chung tên
Chi Đinh: tính từ niên Đinh Hợi
Tám sáu (86) năm cũng mỗi tên này
Hùng Vũ Vương nối nghiệp dầy
So Trung Quốc sử: ngày rày Tây Chu
Chi Mậu: ấy triều vua Hùng Việt
Trăm mười lăm (115) năm đẹp hùng tâm
Năm đời chung dựng mùa xuân
So Trung Quốc sử: ngang tầm Lệ Vương (200)
Chi Kỷ: Hùng Anh Vương trị nước
Chín chín (99) năm truyền được bốn đời
So Trung Quốc sử ấy thời
Bình Vương dựng nghiệp mở đời Đông Chu.
Chi Canh: ấy đời vua Hùng Triệu
Ba đời vua chung một hiệu này
Chín bốn ( 94) năm kể từ ngày
Từ Đinh Hợi tới ngày rày Canh Thân
Chi Tân: ấy đời Vương Hùng Tạo
Ba đời vua lãnh đạo Sơn Hà (210)
Chín hai ( 92) năm dựng nước nhà
So Trung Quốc sử vẫn là Đông Chu
Chi Nhâm : ấy đời vua Hùng Nghi
Bốn đời vua ngự trị Văn Lang
Trăm sáu mươi (160) năm đá vàng
Vũ công văn nghiệp mở trang sử hồng
Chi Qúy: ấy thuộc dòng Hùng Duệ
Lên ngôi từ năm Qúy Dậu kia
Đến năm Qúy Mão vị chi
Một trăm năm chục (150) năm quy ba đời (220)
So Trung Quốc sử thời ngang với
Hai đời vua thuộc mỗi Đông Chu
Tổng cộng Mười Tám Chi Vua
Hai mươi sáu thế kỷ thừa hai mốt ( 2621) năm
Như vậy, họ Hồng Bàng khai sáng
Không chỉ là mười tám đời vương
Mà là mười tám chi Vương
Mỗi chi lại có nhiều vương nối đời
Ôi! pho sử tuyệt vời Âu Lạc
Pho sử thi sinh hoạt giống nòi (230)
Dẫu văn tự mất đi rồi
Nhưng còn di chỉ vẫn ngời ánh dương
Những hiện vật Đông Sơn Ngọc Lũ
Những lưỡi rìu lưỡi búa vân vân…
Những muôn xưa tiếng Trống Đồng
Đã ngân nga khắp núi sông Việt Thường
Nói lên những bước đường khôi vĩ
Tiến lên chân thiện mỹ huy hoàng
Trong dẻo thơm hạt lúa vàng
Trong xinh thắm của y trang con người. (240)
Trong ấm đẹp của ngôi nhà ở
Lại trong phong vân của bài thơ
Câu hò điệu hát hò lơ
Lại trong tiếng sáo lửng lơ non ngàn
Lại trong khúc múa đàn xinh khỏe
Chở chuyên tròn nghĩa mẹ tình cha
Tình non nghĩa nước bao la
Lại trong pho cổ tích hoa gấm vàng
Những cổ tích chiến công Phù Đổng
Gọi nôm là Thánh Gióng anh nhi (250)
“ Ngày xưa có chàng Trương Chi
Trang cổ tích đẹp vần thi tình người
Chuyện Tấm Cám mở trời nhân nghĩa
Chuyện nghĩa nhân ăn khế trả vàng
Thạch Sanh với một cây đàn
Cây rìu để đẵn, cây đàn để ngân
Đàn những cái bất nhân bất nghĩa
Nhân những điều trí tuệ từ bi
Ơi cây đàn của lương tri
Ngàn năm đồng vọng tư duy Lạc Hồng (260)
Lại còn nữa: Chử Đồng Tử với
Nàng Tiên Dung vời vợi tình yêu
Dù cho rào giậu bao nhiêu
Cũng khôn ngăn đắp tình yêu con người
Còn nữa: chuyện nắm xôi huyền thoại
Chuyện Thằng Bờm có cái quạt mo
Chuyện Trầu Cau đẹp bài thơ
Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh… như cuộc đời
Cơ man chuyện ngời ngời cổ tích
Lại ngời ngời lai lịch thiên lương (270)
Trời sinh dân nước Việt Thường
Lại cho trọn vẹn sắc hương của lòng
Đẹp nhất chuyện Tiên Rồng dã sử
Là chuyện trăm trứng nở trăm con
Ôi sao quan niệm vuông tròn
Như ôm bốn biển năm non vào lòng
Thiên hạ vạn vật đồng nhất thể
Điều những nhà “vạn thể” lập ngôn
Việt Nam từ thuở Hùng Vương
Đã trao thông điệp trong nguồn tích xưa (280)
Này: trăm trứng nở từ một mẹ
Có khác chi “nhất thể đại đồng”
Một lòng mẹ cõi phương đông
Chở chuyên trăm trứng tiên rồng âm dương
Từ nhất bổn tỏa muôn phù phẩm
Lại từ muôn phù phẩm quy nguyên
Những lời chư vị thánh hiền
Sao nghe gói trọn trong truyền thuyết kia
Những cổ tích tiền đề Văn Hiến
Như chuyện bánh dày chuyện bánh chưng (290)
Món ăn sao đẹp quá chừng
Sao nghe cao rộng muôn trùng biển non
Một bánh dày nó tròn nó trăm
Một bánh chưng vuông vắn mượt mà
Một tượng trời rất bao la
Một tượng đất rất Sơn Hà thế gian
Một tượng cho vô vàn che chở
Lại muôn vàn hớn hở trăng sao
Một tượng mẹ luôn rì rào
Như con nước chảy nao nao trong nguồn (300)
Một tượng dương với muôn kỳ vĩ
Muôn hào hùng hạo khí hạo nhiên
Một tượng âm rất đa duyên
Lại rất dịu lại rất hiền như thơ
Nước Việt có hai tờ thơ đẹp
Một tờ thơ là nét mạ xinh
Lại là hạt thóc lung linh
Lại là hạt nếp trắng tinh trong ngần
Một tờ thơ trường xuân lá chuối
Cứ phất pha phất phới mai chiều (310)
Hai tờ thơ của tình yêu
Gói trọn cái nghĩa nhiễu điều giá gương
Cho quê mẹ nghìn thơm hương vị
Của đất trời, của ý phu thê
Của trung trinh , của nguyện thề
Của gắn bó, của sum xuê bạt ngàn
Pho lịch sử tròn trang cổ tích
Chuyện Trầu Cau- Ngọc Bích liên thành
Chuyện vợ chồng nghĩa anh em
Trầu Cau- Vôi quấn quít thành Văn Lang (320)
Thiếp xin hẹn cùng chàng chung thủy
Anh nguyện cùng em nghĩa tử sinh
Thì ra Lạc Việt nòi tình
Mình đi mình cũng theo mình mình ơi!
Ra cái mình nụ cười giọt lệ
Ra cái mình miêu duệ Rồng Tiên
Quê hương Tiên Bụt Thánh hiền
Dệt nên trang cổ tích thiên thu này
Còn chuyện tình nào hay bằng chuyện
Chuyện Trương Chi hay đến cực kì (330)
“ Ngày xưa có chàng Trương Chi
Người thì thực xấu hát thì thực hay”
Người ta yêu cái đầy cái đủ
Người ta yêu cái tú cái thanh
Riêng em em lại yêu mình
Thoạt vì cái giọng mình xinh như rằm
Ra tiếng hát nó đằm thắm thế
Nó mênh mang chóp bể mưa nguồn
Nó đưa người tới Vu Sơn
Để đong đưa với sắc hương địa đàng (340)
Để tìm trong mộng tan trong mị
Để vong thân- Ừ! Để hóa thân
Tiếng hát của chàng ngư nhân
Đã ru ai giấc mộng xuân mơ màng
Trong cái nỗi phòng không bóng lẻ
Nàng Mị Nương lặng lẽ đơn tư
Yêu sao tiếng hát song thu
Lênh đênh nhạn trắng tuyệt mù khơi xanh
Đêm bóng ngự năm canh trằn trọc
Ngày biếng ăn chín khúc ruột đau (350)
Hỡi ơi tiếng hát đi đâu
Để ai trăm thảm nghìn sầu vì ai
Gã ngư phủ nhất thời cảm hứng
Cất tiếng ca lồng lộng cung thương
Vô tình ấy chuyện tai ương
Cho cô ái nữ Mị Nương thất tình
Bấy giờ đấng sinh thành nghiêm phụ
Nghe tin nàng ngọc nữ tương tư
Bèn theo lời gã y sư
Triệu Trương Chi tới, dặn ngư dân này (360)
Một là phải đêm ngày thang thuốc
Cho Mị Nương sớm được phục hồi
Hai là phải hát đi thôi
Cho bệnh nhân được nghe vui tấc lòng
Trương Chi nhận lời xong bèn đến
Bên Mị Nương và tiếng ca chàng
Bèn xuyên vào trái tim nàng
Cho nàng mở mắt lại bàng hoàng hơn
Vì cái kẻ giọng dường Tiên Phật
Sao mặt mày lại rất như ma (370)
Khiến cô ái nữ nhà ta
Thất kinh bèn nhắm mắt… và tỉnh cơn!
Và đúng lúc Mị Nương tỉnh giấc
Là khi tình lại dập Trương Chi
Là vì là bởi tại vì
Sao người ngọc lại sinh chi trên đời
Để cho bấy rã rời gan-dạ
Cho tả tơi vàng đá như ri
Để người thật xấu Trương Chi
Mất linh hồn trước “ cô thùy Mị Nương” (380)
Cái luật của sắc hương là rứa
Của sắc thanh hương chữ rõ là
Hai tên thủ phạm gây ra
Cơ man thống hận hóa là vô minh
Mình gây họa mà mình đâu biết
Cái đẹp mình làm chết người ta
Trương Chi từ gặp người ta
Một khi bị tống về nhà bèn… đau
Khiến mây nước nó rầu nó rĩ
Khiến gió trăng nó thỉ nó thầm (390)
Tìm đâu cho thấy cố nhân
Thôi thì lấy chữ tự trầm cho xong
Lại lao mình giữa dòng sông nước
Xác Trương Chi hóa khúc gỗ thơm
Gỗ bạch đàn ngát linh hương
Và sau đó, khúc “gỗ thơm tự trầm”
Lại được một ngư nhân tìm thấy
Và- kì diệu thay- lại đem về
Bán cho đệ nhất gia kia
Để rồi “ khúc gỗ Trương Chi” cuối cùng (400)
Lại được một nghệ nhân chạm khắc
Thành một bộ trà thật là xinh
Thế rồi, lại thật kỳ linh
Mị Nương cầm chén trà xinh uống trà
Để lại thấy người ta hiện bóng
Trong chén trà dậy sóng trường giang
Tay chèo một chiếc thuyền nan
Miệng ca một khúc hò khoan não nùng
Ôi! Cái khúc ca trùng lai điệp
Cái nỗi sầu tha thiết bao nhiêu (410)
Nỗi đau tuyệt vọng tình yêu
Nỗi đau bạc phận rong rêu phận người
Tiếng ca nó biển trời lai láng
Khiến Mị Nương choáng váng tâm hồn
Thế là, giọt nước mắt tuôn
Nhỏ vào giữa chén trà đương hiện người
Và “phép lạ” tức thời xuất hiện
Bóng chàng Trương bỗng biến mất tăm
Hồn oan của Gã ngư nhân
Nay nhờ giọt lệ tri âm của Nàng. (420)
Mà siêu thoát để tan thành một
Ánh trăng vàng siêu mượt hư linh
Cho ta trở lại gặp mình
Văn Lang nước mở trang xinh yêu Vì
Cho cuộc sống thành ghi thành tạc
Cho tình yêu thành nhạc thành thơ
Cho tương giao rộng cõi bờ
Cho tri âm biếc xanh tờ sử xanh
Ôi! những chữ trong lành cổ tích
Những trang thơ ngọc bích Văn Lang (430)
Phiến quạt mười tám chiếc nan
Hai ngàn sáu lẻ triều quang dâng đời
Pho cổ tích rạng ngời nhân giới
Và Chử Đồng Tử với Tiên Dung
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Huống chi chàng với nàng cũng một
Như ngôi chùa Một Cột ấy thôi
Lại như hạt gạo cắn đôi
Lại như trăm trứng từ nơi mẹ hiền (440)
Trang tình sử tình truyền nhân bản
Nhân sinh là nhất bản vạn thù
Dù rằng có xuân có thu
Cô công chúa nọ Gã ngư nhân này
Nhưng tất cả cũng mày cũng mặt
Và mặt trời cũng thắp ánh dương
Và trong từng cánh Thiên Lương
Từng con tim của mười phương Nhân Hoàn
Cô công chúa giăng màn để tắm
Giữa nắng vàng, cát trắng, trời xanh (450)
Một tòa ngọc của tinh anh
Nó mơn mởn, nó long lanh, tuyệt vời
Và những gáo nước ngời gương sáng
Và, ô kìa! Một dáng “Người Ta”
Từ trong cát bỗng phôi pha
Bỗng bày ra, bỗng xô ra một người
Ôi! Sao thế? Tuyệt vời kì lạ!
Một Người Ta đang lõa thể kia!
Một Người Ta rất nam nhi
Rất vời vợi, rất diệu kì như mun. (460)
Sao kể xiết nguồn cơn công chúa
Và nguồn cơn của chú ngư dân
Hai bên duyên trụi duyên trần
Trái tim người đã dệt vần thơ duyên
Chử Đồng Tử! Cái “tên không khố”
Vì chàng nghèo, chàng khổ quá đi
Hai cha con chẳng có gì
Ngoài ra một chiếc khố thì… đương nhiên
Chàng mỗi phải “nhường quyền mặc nó”
Cho bố mình chứ! Có chi sai? (470)
Vì chân đạo hiếu xưa rày
Đạo hiếu trong trái tim này đúng chăng?
Đã nhất thiết dạy rằng nếu bạn
Có mỗi khố thôi hẳn phải nhường
Để cho bố mặc cho tươm
Còn mình thì phải ráng chuồn… xuống ao
Rủi hay may? đúng vào hôm ấy
Trong khi Chàng nọ hãy còn đang
Lang thang trên bãi cát vàng
Một nơi vắng vẻ bỏ hoang xưa giờ (480)
Thì thuyền Nàng cũng vừa cập bến
Rồi ngẫm rằng nơi đến quá xinh
Bèn truyền lệnh đám gia đinh
Giăng màn trên cát cho mình tắm chơi
Thế, có phải duyên trời không nhỉ?
Khéo se giăng buộc chỉ hai người
Một người vời vợi trên trời
Một người dưới đáy vực đời lầm than
Vì cái nỗi anh chàng không khố
Nên phải chui vào giữa cát mà… (490)
Thế là duyên đáng xảy ra
Đã xảy ra đúng như là tự nhiên
Ơi! Những cổ tích thiên ý Bụt
Đất và trời là một- khác chi
Khác là tiểu dị tí ti
Còn đại đồng mới là ni tấc trời
Nối kết hợp cái đôi thành một
Một Dương nghi và một Âm nghi
Khéo tương giao, khéo thuận tùy
Lung linh xảo diệu sinh kia khắc này (500)
Cho Mây đó với Rồng đây mãi
Cho Trúc này với lại Mai kia
Cái lằn ranh của phân chia
Xem ra thật mỏng với quê hương này
Khi cái bọc đã đầy trăm trứng
Thì cái lòng nó cũng trăm hoa
Những trang cổ tích đời ta
Nó thông điệp cái đang là Văn Lang
Nghĩa là cái đá vàng nhân nghĩa
Cái sắc son đạo lý tình yêu (510)
“ Chiều chiều lại nhớ chiều chiều”
Nhớ người đảy gấm khăn điều vắt vai
Chử Đồng Tử chàng trai không khố
Sao lại thành bất tử quê hương
Thần thông biến hóa không lường
Trong ngôi Tứ Bất Tử đương trị vì
Trong cõi đạo huyền vi nước Việt
Phản ảnh vầng trăng biếc trời xanh
Đẹp sao những áng tinh lành
Trong từng trang cổ tích dành muôn sao (520)
Ngoài cái đẹp cái giàu vô lượng
Của tình yêu cao thượng nhân sinh
Của trầm thống của băng trinh
Còn bao cái đẹp cái xinh cái hùng
Ví dụ như cái hùng Thánh Gióng
Của bé thơ Phù Đổng Thiên Vương
Một hình ảnh sáng kim cương
Một bài thơ sáng từng chương đạo người
Khi đất nước gặp thời yên ổn
Thì bé thơ ngủ muộn trong nôi (530)
Suốt ba năm vẫn nằm ngơi
Ba năm không nói không cười- ngủ say
Những bé của quê này như thế
Cứ lớn lên như thể quê mình
Thở từng hơi thở bình minh
Nhịp tim theo nhịp thanh bình tao nôi
Nhưng khi nước gặp thời binh lửa
Thì bé không ngủ nữa ngang nhiên
Ngồi nhổm dậy cất lời lên
Cho con dẹp giặc để yên Sơn Hà (540)
Rồi với chín vại cà ngâm muối
Mười nồi cơm trộn với ngô khoai
Bé liền đứng dậy vươn vai
Để cao như ngọn núi Đoài non Đông
Rồi Bé đòi một ông ngựa sắt
Rồi cưỡi lên ngựa sắt xung phong
Đuổi xâm lược lập kỳ công
Bằng một bửu bối thần thông lạ đời
Ấy là bụi tre nơi đầu ngõ
Bụi tre già tuổi thọ ngàn năm (550)
Bụi tre cho Bé măng ăn
Bụi tre cho Bé chốn nằm nghỉ ngơi
Cho Bé cả một trời thơ đạo
Với vầng trăng sáng tạo treo cành
Với bầu trời ơi là xanh
Với cánh diều trắng long lanh nắng vàng
Với sức mạnh của ngàn thiên tướng
Bé nhổ bụi tre lớn mười ôm
Xông vào lũ giặc lôm côm
Quét như quét bụi cả muôn quân thù (560)
Đuổi giặc khỏi cõi bờ xong xả
Bé tiên vương chi xá đòi công
Bèn cưỡi ngựa vút lên không
Mặc ai bia đá tượng đồng với ai
Ôi những bậc anh tài thuở trước
Chỉ một nguyền xin được hiến dâng
Lấy sức từ của nhân dân
Cá muối cơm độn thiết thân vạn đời
Lấy khí giới từ nơi Đất Mẹ
Bụi tre làng lặng lẽ hiên ngang (570)
Dẻo dai, gai gốc, ngang tàng
Thủ thời tử thủ, công càng kỳ công
Và ngựa sắt- rèn lòng son sắt
Và lửa hờn đốt giặc xâm lăng
Và điều đẹp nhất sao trăng
Là lòng yêu nước chẳng bằng… thịt xôi
Và khi thắng giặc rồi Thánh Gióng
Chẳng thèm ngồi lóng ngóng ăn chia
Mà dong ngựa sắt quay về
Cõi trời tịch mặc, chữ đề Sóc Sơn (580)
Ôi! Những khối kim cương hùng vĩ
Những anh hùng chiến sĩ vô danh
Một dâng trọn trái tim mình
Để cho nước đặng hòa bình tự do
Những thông điệp truyền cho hậu thế
Của đời Hùng sao vĩ thế kia
“ Nhất cao là núi Ba Vì
Cây cao nhất núi không gì bằng Thông”
Anh khí của non sông hùng tráng
Phúc sinh- ca núi Tản sông Đà (590)
Chuyện xưa ai nhớ chăng là
Vua Hùng có gái xinh là Mị Nương
Bấy giờ có hai chàng xin được
Làm rể vua một lượt ấy là
Sơn Tinh- thần Tản Viên, và
Vị thần sông nước tên là Thủy Tinh
Hai vị thần cùng xinh cùng trẻ
Cùng tài ba địa vị ngang nhau
Lại cùng chung một yêu cầu
Lại tâu một lượt chẳng sau trước gì (600)
Trước sự việc cực kỳ hy hữu
Hùng Vương bèn kêu cứu… rủi may
Bày giải pháp cực kỳ thay
Rằng: ai đến trước rạng ngày hôm sau
Và Sơn Tinh đã may mắn trước
Dẫn một đoàn lũ lượt ngựa voi
Dâng bao nhiêu thức trên đời
Sừng tê, mật gấu, ngà voi,… bộn bàng
Để, chung cuộc được nàng công chúa
Dẫn lên non làm vợ “vua non” (610)
Còn Thủy Tinh chậm bước hơn
Đành dâng mối hận thành cơn thủy triều
Quyết nhận chìm bao nhiều thành quách
Của Sơn Tinh cho sạch sành sanh
Có điều hễ nước càng nhanh
Thì non kia lại càng nhanh hơn nhiều
Cứ như thế qua nhiều thế kỷ
Cuộc tranh hùng giữa Thủy- Sơn Tinh
Nói lên ý nghĩa nhân sinh
Rằng đời là cuộc đấu tranh ngoan cường (620)
Để chống với tai ương nhiên giới
Bằng sức người vươn tới trời xanh
Để tồn tại giữa quang vinh
Như non Tản biếc long lanh nghìn tầm
Những thông điệp về Tâm cứ thế
Truyền về cho hậu thế về sau
Những dưa hấu, những trầu cau
Mỗi cổ tích một nhịp cầu Tâm Linh
Ai quên được Thạch Sanh thần thoại
Có chuyện nào vĩ đại hơn đâu (630)
Thạch Sanh đóng khố… rừng sâu
Cây rìu để chặt cái đầu xà tinh
Cây đàn để xướng xinh chân lý
Của trái tim… thi vị tình yêu
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ mây Hồng Lĩnh ngọn triều Lam Giang
Thạch Sanh với cái thang để bắc
Qua hố sâu phản trắc lòng người
Để đưa nhau tới mặt trời
Để đưa nhau tới nụ cười tương giao (640)
Thạch Sanh với xiết bao hạt lệ
Và nụ cười như thể nhân sinh
Ngày xưa có chàng Thạch Sanh
Hình như từ đá sinh thành đúng chăng?
Chỉ hay thuyết xưa rằng có một
Đôi vợ chồng nghèo rớt mồng tơi
Hai bên đã trọng tuổi đời
Vẫn chưa một mụn nối đời về sau.
Thương bấy nỗi lòng đau bất hiếu
Thạch Ông lo quán miếu vun đền (650)
Một niệm cầu nguyện ơn trên
Bấy giờ Ngọc Đế ngự trên chín tầng.
Xét thấy họ thành tâm rất mực
Bèn cho chàng trai út giáng sanh
Ba năm thai nghén tinh anh
Thạch Bà sanh được Thạch Sanh nối dòng.
Chỉ thương nỗi Thạch Ông mòn mỏi
Cái nỗi chờ nỗi đợi khôn nguôi
Nên con chưa kịp chào đời
Thạch Ông đã vội về nơi suối vàng. (660)
Thế là nẻo đời sang khúc rẽ
Thạch Sanh thành đứa trẻ không cha
Để rồi sau đó Thạch Bà
Cũng lìa bỏ cõi người ta đọa đày.
Và Thạch Sanh hóa rày đứa trẻ
Mồ côi cha lẫn mẹ buồn ơi!
Ngày nao con út ông Trời
Bây giờ thành trẻ mồ côi giữa rừng.
Được cái lá vận cùng tắc biến
Thạch Sanh, trong vận chuyển cơ trời (670)
Cũng dần lớn phận con người
Tuổi mười ba, lại được trời cho tiên.
Xuống trần thế dạy riêng bé Thạch
Phép thần thông quét sạch tà ma
Dĩ nhiên, vốn gốc con nhà
Nên học tiên thuật “cũng là trò chơi”.
Bấy giờ ở gần nơi bé Thạch
Có một người “rất hách” tên là
Lý Thông – vốn thói ranh ma
Suốt đời, chỉ gạt người ta để mình. (680)
Chợt đi ngang thấy hình dáng Bé
Rất to con như thể lực điền
Trong khi gương mặt thiếu niên
Vừa ngây dại, lại hồn nhiên như là.
Họ Lý bèn lân la bước tới
Làm quen và rủ gọi Thạch Sanh
Cùng mình kết nghĩa đệ huynh
Nén hương đồng tử đồng sinh giữa trời.
Cả họ Lý có người mẹ ruột
Thị cùng con một ruột tinh ma (690)
Từ khi nhận bé vô nhà
Thì thôi cứ việc mà tha mà hồ.
Mà bóc lột bốn mùa lao động
Canh một chưa nằm xuống canh năm
Đã nghe “nghĩa mẫu” lầm bầm
Rằng trời sáng bảnh còn nằm nỗi chi.
Dẫu kham khổ nhưng vì đạo nghĩa
Đã cùng người rằng đệ rằng huynh
Nên lòng Thạch cứ đinh ninh
Mẹ người ấy cũng mẹ mình thế nên … (700)
Qua những buổi đảo điên như thế
Rồi một ngày tồi tệ xảy ra
Trong vùng có lão Trăn Ma
Người ta cũng gọi lão là Xà Tinh
Vốn là kẻ tu hành ma quái
Phép thần thông phá hoại càng hay
Cũng nhờ phép thuật Đông Tây
Lão Xà Tinh mới già tay hại người.
Sau một thuở quậy đời tan nát
Còn lộng hành hại thác quân binh (710)
Làm quan sở tại thất kinh
Bèn vội dâng biểu về kinh: tâu rằng
Nay có gã tinh Trăn cũng khá
Phép thần thông biến hóa cũng thần
Nay vì cái lẽ “Yên Dân”
Cúi xin thánh thượng ban ân cho … thờ
Vua nhận biểu cũng lờ đờ gật
Thế là quan bèn lập miếu thờ
Hàng năm cúng một mồi tơ
Gái trai cũng đặng- đúng mùa Nguyên Tiêu. (720)
Và hôm ấy..như điều định mệnh
Gã Lý Thông bị dính…thăm mời
Than ôi rồi lại hỡi ôi
Phân “Thông” lên miễu thì “Tôi” còn gì
Lý bèn vội phát huy tài gạt
Kế “Kim Thiền Thoát Xác” rõ hay
Bèn rằng chú Thạch nghe đây
Phiên anh vào miếu đêm nay cúng thần
Nhưng đang bận việc cần giúp mẹ
Nên nhờ em đi thế nghe Sanh ! (730)
Thạch Sanh vốn thuộc nòi lành
Nghe “anh” nói, cứ ngỡ “anh” thật lòng.
Bèn vác rìu thẳng xông lên miếu
Đôi nhang đèn đúng điệu kính tôn
Lại còn tìm chổi quét luôn
Để cho miếu sạch như gương mới là
Làm công quả miếu tà xong xả
Thạch Sanh chừng đa đã, thiu thiu
Bỗng đâu một trận gió yêu
Thổi hơi lạnh tới, thiếu điều thấu xương (740)
Rồi một Mãng Xà Vương xuất hiện
Há cái mồm như miệng cái lu
Lại phun ngọc lửa phù phù
Vừa tanh tưởi vừa nóng như nung giòn.
Đối với những trò con con nọ
Với ai kia thì nó gớm ghê
Nhưng đối với Thạch Sanh thì
Chỉ là chuyện nhỏ có chi rùng mình
Nên tự tin, Thạch Sanh cười tủm
Và xông lên múa lượn lưỡi rìu (750)
Thành bùa Linh ngữ Trảo yêu
Đoạn , a lê hấp, ra chiêu một đòn.
Thế là chặt đứt luôn đầu rắn
Khiến máu me phun bắn như mưa
Chảy như ngọn suối ồ ồ
Nửa canh máu chảy còn chưa chịu ngừng.
Giết xong Mãng Xà Vương, thủng thẳng
Sanh vác ngay đầu rắn về nhà
Miệng kêu “ anh Lý Thông à!
Mau ra mở cửa, em đà về đây!” (760)
Gã họ Lý đang say giấc ngủ
Nghe tiếng kêu, tưởng “ cựu hồn” về
Bèn lên giọng thốt giọng thề
Rằng: “ Hồn ơi ! hãy mau về Tây phương
Xin hồn chứng anh thương hồn lắm
Chẳng qua anh gánh nặng mẹ già
Nên đành đem mạng em ra…”
Lý Thông kể lể ì à một thôi
Sanh vỡ lẽ ra đời nó thế
Nhưng vốn khoan dung, chẳng để lòng (770)
Bèn đem hết chuyện thư hùng
Giữa rìu và rắn kể cùng Lý Thông
Lại khoe một cây cung vàng chói
Với đầy Tên cũng chói ánh vàng
Vốn là bửu bối Xà Vương
Mà chàng nhặt giữa đường trường trong đêm.
Thông nghe kể xong liền tựu kế
Rằng : “ Thôi em làm bể chuyện rồi
Rắn kia vốn Tướng nhà trời
Đương kim Hoàng Thượng lãnh nuôi trong nhà
Thôi, em hãy liệu mà trốn gấp (781)
Còn mọi điều để mặc anh lo
Sanh nghe, sợ, chạy vắt giò
Để Lý Thông nọ lò dò đến kinh.
Đưa đầu rắn ra trình Thiên Tử
Rồi một phen tự sự kỳ công
Vua nghe, hớn hở bụng Rồng
Bèn đem chức tước Quận Công phong liền.
Thuở ấy có thiên kim công chúa
Tên Quỳnh Hoa tuổi độ tròn trăng (790)
Vua bèn mở hội hoa Đăng
Để cho công chúa chọn trang anh tài.
Nhưng hội tuyển kéo dài ba tháng
Mà chưa ai xứng đáng nòi tiên
Bấy giờ một buổi chiều êm
Quỳnh Hoa dạo bước Ngự Viên một mình.
Bỗng đâu Đại Bàng tinh xuất hiện
Cắp lấy nàng và biến lên mây
Thế rồi, trong chốn rừng cây
Nơi xưa, Thạch chọn nơi này quê hương. (800)
Như định mệnh mở đường ra thế
Thạch Sanh trong bóng xế ban chiều
Lòng tràn ngập nỗi cô liêu
Thẩn thơ thơ thẩn bước theo cơn sầu
Bỗng thoáng thấy giữa bầu xanh ngắt
Một Đại Bàng đang cắp người bay
Sẵn cung vàng ở trên tay
Thạch Sanh bèn kéo căng dây bật liền
Và, vút một mũi tên vút mạnh
Cắm ngay vào một cánh Đại Bàng (810)
Rồi từ vết máu hồng loan
Rồi sa xuống đất chỉ đàng người theo
Thạch Sanh cứ trèo đèo lội suối
Để tìm ra đầu mối yêu tinh
Xong xuôi ghi dấu địa hình
Rồi quay về túp lều tranh giữa rừng
Lại nói về Lý Thông sau lúc
Nhờ Mãng Xà một bước lên quan
Sống đời “dũng sĩ” nghênh ngang
Ngựa xe đủng đỉnh bạc vàng kiêu sa (820)
Cho tới lúc Quỳnh Hoa gặp nạn
Bị cướp đi mất dạng mất hình
Bấy giờ vua họp triều đình
Mà nghe văn võ đồng thanh một lời
Rằng Bệ Hạ có tôi hào kiệt
Đã từng phen tiêu diệt Xà Tinh
Vua nghe hợp lý hợp tình
Bèn gọi họ Lý đích danh trao lời
Rằng: “Ai giỏi bằng ngươi được nhỉ?
Trẫm giao ngươi xử lý việc này (830)
Tìm ngay công chúa về đây
Như tìm được sớm Trẫm rày gả cho”
Lý Thông được lời vua lo quá
Bèn nghĩ ra mưu lạ, vội về
Địa phương mình ở xưa kia
Bày ra một lễ hội hè rất vui
Có đủ thứ nước nôi rồng rắn
Tiếng Trống Đồng mươi dặm còn nghe
Bấy giờ ở chốn rừng kia
Thạch Sanh nghe tiếng rủ rê Trống Đồng(840)
Bèn tìm đến chỗ Thông mở hội
Kể cho nghe đầu cuối ngọn ngành
Lý Thông nghe rõ sự tình
Bèn ngọt ngào rủ Thạch Sanh lên đàng
Tìm đến chỗ Đại Bàng tinh dị…
Rồi sai binh lính mở miệng hang
Đoạn thòng xuống một chiếc thang
Và dụ cho Thạch “mở hàng” xung phong
Lòng Thạch vốn bao dung giản dị
Miễn “ thành nhân chi mỹ” là vui (850)
Bèn không đo đắn lôi thôi
Cứ theo thang xuống tận nơi hang hùm
Và tìm gặp cô nàng công chúa
Bậc giai nhân đương độ xuân thì
“ Ai xuôi gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không”
Vừa thấy mặt đôi lòng như đã
Bèn hẹn thề vàng đá ba sinh
Xong xuôi Thạch mới bảo Quỳnh
Và đem thuốc mê, thuốc lão Tinh Bàng (860)
Đoạn dẫn Nàng tới hang để sẵn
Định Nàng lên xong hẳn tới mình
Nào hay cái Gã nghĩa huynh
Đem con bỏ chợ tuyệt tình anh em.
Vừa mới thấy nàng lên khỏi vực
Gã đã cho binh rút thang liền
Thế rồi cho đủ đảo điên
Còn sai khiêng đá lấp liền miệng hang
Đoạn ra lệnh đưa nàng công chúa
Về kinh ngay hội ngộ vua cha (870)
Lại còn giận dỗi bảo là
Gã còn ở lại để mà trừ gian
Sau một buổi lềnh bềnh thu xếp
Gã Lý Thông mới lệnh về triều
Tâu rằng đã trảm xong yêu
Và đem công chúa về triều cho vua
Đúng cái lẽ họa vô đơn chí
Nàng Quỳnh Hoa long thể bất an
Vì không dưng vắng bạn vàng
Vì không dưng chịu đoạn tràng sinh ly (880)
Nỗi uất nọ sầu kia đã khiến
Nàng thốt không ra tiếng đành câm!
Và thế là cuộc hôn nhân
Giữa công chúa với quận công tạm đình
Lại nói chuyện Thạch Sanh hôm đó
Sau khi đưa công chúa lên thang
Tưởng rằng đời sắp sang trang
Ngờ đâu chớp tắt dây thang cuốn rồi
Tiếp theo đó một trời mưa đá
Đổ ầm ập lấp cả đường đi (890)
Thạch Sanh vô kế khả thi
Họa còn một cách là thi gan vàng
Đúng khi ấy Đại Bàng tỉnh dậy
Nhìn chung quanh và thấy kẻ thù
Gã liền mỏ tréo mồm tru
Rồi xông lên mổ quắm như Đại Bàng
Chiến đấu vốn nghề chàng họ Thạch
Bèn vươn rìu lượn lách đông tây
Cuối cùng một nhát rìu bay
Chém đứt phăng cái cổ tày cổ voi. (900)
Đại Bàng tinh thác rồi Thạch vội
Rảo nhanh chân tìm lối thoát thân
Chợt đâu gặp một tù nhân
Nằm trong một cũi sắt gần tắt hơi.
Thạch bèn rảo tới nơi ướm thử
Mới hay là Thái Tử Long Cung
Bị con yêu quái gian hùng
Lừa giam để tống tiền ông bố giàu.
Nên vội nhứt triền mau phá cũi
Để giúp người thoát khỏi lao lung (910)
Bấy giờ Thái Tử Long Cung
Bèn mời mọc Thạch ân công theo về.
Để rồi được Thủy Tề trọng vọng
Hứa mang cho chức trọng quyền cao
Nhưng Thạch chẳng tỏ chẳng hào
Chỉ xin nhận chút Ly Tao cây đàn.
Long Vương khôn giữ chàng ở lại
Bèn tiễn về lại mái nhà xưa
Nơi có túp lều nắng mưa
Và hai linh vị kính thờ Mẹ Cha. (920)
Bấy giờ lũ yêu ma tinh quái
Tinh Đại Bàng rồi lại ta tinh
Vốn dù thác vẫn chưa kinh
Vốn dù thác vẫn còn linh tinh hoài.
Bèn tụ tập nghĩ bài trả đũa
Lẻn vào kinh khoắng của nhà vua
Ngọc, vàng, mã não, san hô
Rồi gieo tang vật đổ thừa Thạch Sanh.
Bấy giờ gã Lý huynh bất nghĩa
Được vua giao xử lý việc này (930)
Nỗi mừng cờ đã đến tay
Nên đem khép tội Sanh mây tử hình.
Trong ngục tối oan tình khó nỗi
Thạch Sanh bèn đem nỗi lòng đau
Phổ lên mấy sợi tơ sầu
“Bổn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”.
Tiếng đàn khóc những ngày côi cút
Phận nhà nghèo heo hút cháo rau
Lại than cái cuộc bể dâu
“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. (940)
Lại tiếc nỗi tình sâu nghĩa biển
Quỳnh Hoa ơi chân thiện mỹ này
Mới vừa Trúc gặp Mai đây
Chưa sum họp đã chia tay sao đành.
Tiếng đàn suốt năm canh trầm bổng
Cao ngàn tầng lại rộng ngàn khơi
Nó lênh đênh cái phận người
Nó hắt hiu cái nghiệp đời lầm than.
Sao thống thiết tiếng đàn trong ngục
Nó nỉ non chín khúc đoạn trường (950)
Vượt qua trăm dặm tiền đường
Rồi len lỏi tận bên giường Quỳnh Hoa.
Tiếng công chúa nghe qua chợt tỉnh
Chợt nhớ ra chính chuyện mình quên
Chuyện mình bị cắp bay lên
Bởi con Tinh Đại Bàng trên chín tầng.
Rồi chuyện gặp ân công họ Thạch
Với mũi tên hiển hách diệt tà
Rồi thì tới chuyện “ Người Ta”
Xông vào huyệt cứu mình ra … rồi … rồi (960)
Ôi ! những chuyện một lời khôn kể
Chỉ biết rằng “ thôi thế thì thôi ”
Một cơn ác mộng tan rồi
Quỳnh Hoa tỉnh dậy nụ cười nở hoa
Chuyện như thế nghĩa là hết chuyện
Nghĩa là nàng tìm đến vua cha
Kể đầu đuôi tự sự và
Thạch Sanh liền được tha ra khỏi tù
Và được thành trượng phu Công Chúa
Với công hầu áo mũ xênh xang (970)
Còn tên họ Lý gian tham
Thì được Phò Mã thả ngay cho về
Chỉ một nỗi đường quê chẳng tới
Vì người ta tha tội nhưng trời
Lại thương thiên võng khôi khôi
Nên bị sét đánh chết tươi giữa đường
Ở hiền thì hương hỏa dài lâu
Thế mới biết đạo trường nhân quả
Ở ác rồi chuyện rồi lâu
“ Sơ nhi bất lậu” ấy câu răn đời (980)
Lại nói về chuyện ngôi Phò Mã
Chẳng bao lâu vua lại băng hà
Và vì công chúa Quỳnh Hoa
Là con độc nhất. Vậy là ngôi vua
Đương nhiên được truyền thừa Phò Mã
Đúng như ngôi giáng hạ sinh thành
Với lòng dân đã quang minh
Để cho trăm họ thái bình Âu ca
Tích xưa kể còn qua đoạn cuối
Ấy là khi cả hội chư hầu (990)
Những người vừa mới không lâu
Đã từng phen “ bước qua cầu tiểu phu ”
Nhưng chẳng được mắt thu lóng liếng
Cho đôi tròng chuyển trắng thành xanh
Bấy giờ nghe tiếng Thạch Sanh
Tự dưng lại được yên lành nối ngôi
Bèn một dạ tức ơi là tức
Bèn một lòng dấy cuộc đao binh
Họp thành một hội đồng minh
Ầm ầm vạn mã thiên binh tiến vào (1000)
Chính nghĩa lại phất cao cờ nghĩa
Khí thế thù ầm ỉ trống thù
Rực trời lửa cháy biên khu
Khiến cho xã tắc bây chừ rung rinh
Chàng họ Thạch với tình yêu lớn
Ghét chiến tranh chỉ chuộng hòa bình
Mặc dù bản lĩnh chiến binh
Vẫn tâm nguyện chữ nhân sinh dĩ hòa
Bèn cùng với Quỳnh Hoa công chúa
Đi đón đầu cơn lũ xâm lăng (1010)
Bằng bằng một khúc đàn tràng
So lên dây vũ dây văn tuyệt vời
Tiếng chi như tiếng cười con trẻ
Tiếng chi như tiếng hé canh sương
Tiếng chi như tiếng yêu thương
Tiếng chi như tiếng Tiên Long ngọt ngào
Tiếng chi như tiếng cao ngất núi.
Tiếng chi như tiếng gọi rất lòng
Tiếng chi tan tản hừng đông
Tiếng chi lừng lẫy cánh đồng hoàng hôn (1020)
Tiếng chi thêm nỗi buồn nhân thế
Tiếng chi vươn cành quế Tâm Linh
Tiếng chi Bát Nhã Tâm Kinh
Tiếng chi dạ tạc phong hiền lung linh.
Ôi! Cái tiếng tình yêu vô lượng
Ẩn bên trong thịnh vượng Tâm Đài
Bi mà hùng một láng lai
Vững mà từ một không hai Việt Thường.
Đẹp như nét Hùng Vương dựng nước
Xinh như hoa Thược Dược hai mùa (1030)
Khéo ôi! Cái tiếng cung tơ
Xôn xao như vạn bài thơ quê mình.
Cái tiếng nói gợi tình trắc ẩn
Nó gọi niềm lay mẫn mênh mông
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Cái tiếng nó hòa tan chủng tộc
Lại hòa tan đẳng cấp nhân sinh
Khiến nghe ai cũng nhà mình
Khiến nghe ai cũng là kinh Thúy Kiều. (1040)
Cái tiếng nói của điều lớn nhất
Rằng ai không có Phật trong lòng
Phật là niềm sạch niềm trong
Niềm yêu niềm dấu niềm không hận thù.
Là cái niềm thiên thu tịch mặc
Là cái Tâm tịnh lạc ngã thường
Và tia sáng của vừng dương
Và hương thơm của mười phương trăng rằm.
Ôi! cái tiếng đàn căng vĩ đại
Chở tròn Tâm vô ngại Đại Bi (1050)
Tiếng đàn từ cõi lưu ly
Được Thạch Sanh chở chuyên về trần gian.
Nay giữa chốn xa tràng máu lửa
Như đôi bên sắp sửa tranh hùng
Để cùng vâng dạ để cùng
Chợt tìm ra tiếng nói chung của lòng.
Đi là lẽ Đại Đồng nhân loại
Lẽ tượng sinh tồn tại bên nhau
Lẽ bí bầu lẽ trầu cau
Lẽ muôn xưa lẽ muôn sau vạn đời. (1060)
Tiếng đàn làm vạn người tham chiến
Thoắt đều buông tay kiếm tay cung
Và trong một nỗi niềm chung
Nhìn nhau như thể tay chân ruột rà.
Và như thế nghĩa là cuộc chiến
Cáo chung từ khởi điểm lành thay
Và thế là kể từ đây
Các lân bang sẽ bắt tay họp quần.
Và để mừng mùa xuân hữu nghị
Thạch Sanh bèn dở trí thần thông (1070)
Nhóm lên một bếp lửa hồng
Và bắc lên một nồi đồng tí hon.
Rồi mời cả ba quân tướng sĩ
Thử dùng chơi chút vị Văn Lang
Nồi cơm xới mãi vẫn tràn
Vị cơm càng nếm lại càng hương thơm.
Như Mười Tám Đời Vương vinh hiển
Để ngàn đời có “chuyện đời xưa”
Nằm trên nhịp võng đơn sơ
Con nghe mẹ hát bài thơ Vua Hùng (1080)
Tập SỬ THI này được viết vào ngày 21 tháng 02 năm Kỷ Sửu (tức ngày 17/03/2009)và hoàn tất vào ngày 29 tháng 02 năm Kỷ Sửu.
( tức ngày 25/03/2009).
Tác giả: Huỳnh Uy Dũng
0 nhận xét:
Đăng nhận xét